GIAI  PHẨM XUÂN ĐINH DẬU-2017  SƯ PHẠM ÁO NÂU ĐÀ LẠT

Chúc mừng Xuân mới

xuan 2013

Chúc gia đình SƯ PHM ÁO NÂU và tt c bn đc năm mi Xuân Đinh Dậu-2017

SC KHE, BÌNH AN, DÂN CHỦ, T DO, HNH PHÚC!

Mục Lục

   CON ĐƯỜNG Ý XUÂN VUI

1.Một chút Ý Xuân Vui Thanh Quang

2. Dưới Ánh Sáng Mặt Trời -cây đời mãi mãi xanh tươi…Hoàng Liên

3.Lẽ Thương- Lẽ Thường NK

4.Đất Nước Cuộc Sống Con NgườiQN

5.Bài thơ tự sự Hoàng Như Thuỷ An

6.Những Điều Sỉ Nhục Và Căm Giận -Lưu Quang Vũ

7.Đất nước mình ngộ quá phải không anh –  Trần Thị Lam

8.Xin đổi kiếp này   Nguyễn Bích Ngân

9.sáng tạo nghệ thuật là sự trở về chính mình Hoàng như Thuỷ An

10.Mạ tôi-Tiếng Thông reo-Xuân Ý Ý Xuân-Phạm Mai Hương

11.Tìm -Mơ Ước Gửi Em…. Hoài Linh Vũ

12.Cún khócTruyện ngắn của Lê Mai

13.Sài Gòn giải phóng tôi– Nguyễn Quang Lập

14.Người phụ nữ đặc biệt nhất trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

15.Bang vô đạo  …-Trần Văn Chánh

16.“Chúng ta đều phụ thuộc vào nhau”-GS Trịnh Xuân Thuận-Kim Yến

 17.Về các đền thờ Hai Bà Trưng tại đất Trung Quốc ngày nay

18.Về Thăng Long và lên Yên TửNguyên Ngọc

19.Việt Nam, Trung Tâm Nông Nghiệp Lúa Nước Và Công Nghiệp Đá, Xưa Nhất Thế Giới-

BSTSNguyễn Thị Thanh

20-Hoàn Kiếm– QN

 

  CON ĐƯỜNG Ý XUÂN VUI

Chi mot con duongCon Đường Chỉ Một Con Đường

Con Đường Chỉ Một Con Đường Ý Xuân Vui

Ý Xuân Vô Ngã Ý Con đường Ngày Xưa

Ý Bát Nhã Ý Sắc Không Tức Thị Ý Con Đường Phật Mẫu Ma Ha

Ý Vui Xuân Ý Tất Cả  Ý Xuân Vui

Ngày Mai Non Nước Nước Non

Niềm vui Trọn vẹn hay là Chừng Xuân

Con Người Sống Với Con Người

Con Người –Nhân Loại mới là Con Đường Ý Xuân Vui

Mùa Xuân Nước non Ý Vui còn nhiều rét run giá lạnh

Trái Tim Xuân Ý Ý Ý Vui Ấm Nồng

Tình Người Ý Vui Cuốc Sống Con Người mới là Ý Xuân Vui

Sống Vui Với Tất Cả Ý Xuân Vui

Mới là Lời Non Nước xưa rày Ý Xuân

Xuân Nay một chút Ý nồng say Hương Ý

Ý Vui cho Đời một chút Cuộc Sống Ý Xuân này mà vui

Ý Vui Xuân Ý Ý Ý Xuân Vui

Ma Ha Bát Nhã Ý Con Đường Ý Xuân Ngời- Người Ý Vui Xuân Ý Vui!

 

1.MỘT CHÚT Ý XUÂN VUI

Thanh Quang

MAD DL 3-Xuân cứ đến, theo mùa, Xuân cứ đến! Hết Hạ, Thu , Đông nay  lại đến Xuân!  Xuân đến, lại một mùa Xuân mới, Đất, Trời Xuân  bừng nắng mới , Ý  Tâm Tâm Ý Xuân Vui!

Con Người  cuộc sống Nhân duyên trong dòng cuộc sống Nhân duyên Nhân quả Vô Thường! Vô thường Cuộc sống Con Người, muôn loài cuộc sống trong dòng cuộc sống Ý Duyên sinh. Nhân duyên nhân quả vô thường,    Nhân nào   Quả nấy,  Nhân Qủa  tùy Duyên.   Bài học Ngàn Vàng trong cuộc sống vô thường xưa nay đâu có  sai…-”Ý dẫn đầu các pháp; Ý làm chủ, Ý tạo tác“  (Kinh Pháp Cú), tuỳ Ý Tâm của con người- Ý Thiện, Hiền, vô nhiễm hay Ý bất thiện,  nhiễm ô ….mà Ý Tâm Tâm Ý con người có cuộc sống Ý Tâm An vui hay khổ não, không tạo nghiệp hay tạo nghiệp, nghiệp kéo lôi ….

 Con Mắt cuộc đời là con mắt Tâm Mặt Trời. Sáng, Ý sáng rõ ràng, thấu suốt mọi tâm can con người cuộc sống-cuộc sống con người.  Con Người sống với Con Người,  nếu  sống với  Tâm Ý  Gian, Ác, Tham, vị kỷ….,    bằng quyền lực, thủ đoạn, phe phái, chỉ vì mình, phe nhóm của mình, không thấy, biết đến sự khổ đau của con người, đồng loại, xã hội, đất  nước …. thì làm sao có Tâm sáng ?! Họ đang sống trong Mặt trời đen, đấy ý phân biệt, Vô minh, dục vọng, ác, tham…. mà cứ tưởng rằng mình sáng suốt, là đèn pha chiếu dọi ….…

Con Người sống với Ý Hiền, Ý Thiện lành, luôn sống vì mọi người, sống yêu thương, bình đẳng, tương duyên, luôn có Tâm Sáng, Ý Sáng. Tâm Sáng, Tâm Hiền, Tâm thương yêu- có người có mình, có mình có người, “Thương Người như thể thương thân”; “lá lành đùm lá rách”, dù là Bầu, là Bí nhưng  Ý  thương yêu vẫn luôn gọi nhau sống đẹp, tâm hiền -” bầu ơi thương lấy Bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”….. Tâm Sáng luôn luôn sống Ý Sáng-  Ý không-Ý thông, Ý vô phân biệt,  không có gì ngăn ngại; là Tâm bình đẳng, sáng trong-Thương người, thương mình, từ tâm mà thương, từ trí mà thương, Thương là tối thượng ! Thương, đó là Tâm; Thương, đó cũng là Trí- Ý không, Ý  Huệ;   Tâm Sáng-Sáng Tâm!... Đừng lấy cái tham vô đáy, cái tâm vị kỷ, nhỏ mọn, cái tâm mặt trời đen để so sánh…..

Cuộc đời là Vô thường! Con Người sống  cuộc sống vô thường  luôn luôn tự biết Ý của mình trong cuộc sống nhân duyên. Ý Duyên Duyên Ý;  Ý khởi lên là Tự Biết ngay. Ý Thiện, Ý Hiền hay Ý bất thiện, Ý ác; Ý vì người, lợi người hay là vì mình, lợi mình.; lợi mình hại người thì dứt bỏ ngay .. – Hãy quý nhau, yêu thương nhau…vì cái Ý, cái Tâm. Cái Tâm ấy không vì mình, tất cả vì người,Ta- Người bình đẳng,  tương tức-tương nhập,  vì cuộc sống hạnh phúc trong cuộc đời khổ đau này. Khổ đau-vì  vô thường nhưng  chính nhờ cái Lẽ Vô thường ấy mà ta có cuộc đời Hạnh phúc…Có Vô thường mà hôm nay ta lại đón mùa xuân mới; Có vô thường mà ta chúc nhau một năm mới có nhiều hạnh phúc an vui; Có Vô thường mà ta tin cái Thiện luôn thắng cái Ác, ánh sáng sẽ thắng bóng tối; vì có Vô thường mà ta tin, là con người ai cũng có quyền làm người, có quyền mưu cầu tự do, hạnh phúc, có tình yêu thương chân thật, trong cuộc sống thực,  từ Tâm Xuân chân thật chứ không phải là lời bọt nước, bèo trôi….Vì Vô thường, nhân quả nhân duyên trong cuộc đời này mà con người sống là sống với, là nhân là duyên của nhau trong cuộc sống xã hội, dân tộc, đất nước, nhân loại  để làm người, sống dưới Ánh Sáng Mặt Trời…

Và vì lẽ vô thường nên đâu có cái gì là mãi mãi, là “muôn năm, vạn tuế”…Xuân đến rồi xuân sẽ qua. Tương lai luôn  bắt đầu từ hiện tại.  Hãy tự thay đổi, sống lẽ thật cùng với lẽ sống vô thường, với  Ý Tâm Tâm Ý   sáng, hiền,  yêu thương , biết sống hướng thượng, Ý  Sáng vui ; đừng đeo mặt nạ   người che đậy cái ý ác, bất thiện, ” mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”, nhà cao cửa rộng, giàu sang …để tỏ ta đầy quyền cao, chức trọng … Ý ác, Ý bất thiện,  nhiễm ô…luôn luôn tạo nghiệp, nghiệp kéo lôi,  “như xe, chân vật kéo”(1)….Sống trên cõi đời, nhìn lại lịch sử con người, xã hội, đất nước, nhân loại…ai cũng thấy- “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”! Con người tạo nghiệp-nghiệp trả trước mắt, chính mình phải trả, hoặc cuộc sống đời sau của mình, ở đâu-trước mắt đó thôi….  

Lẽ đời vay trả, trả vay !Tất cả tự mình! Ý Tâm Tâm Ý Ý chuyển sống hiền, sống thiện, sống an vui! Hãy tự Quay về với chính mình- Từ Tâm Tâm Sáng- Tâm Sáng Sáng Tâm, Tình Thương-Trí huệ ,  sống Ý  Xuân Vui  trong cuộc sống vô thường này…

Vì là Vô thường nên Xuân cứ đến,  Ý Xuân  vui !

 (1)Kinh Pháp Cú

 

2.LẼ THƯƠNG – LẼ THƯỜNG

NK

Hoa Hong Vang

Tặng người yêu tôi- người tôi yêu!

1.Suốt ngày bên nhau, mỗi người mỗi việc, hồn ai nấy giữ! Ông ngoại mãi hái cà phê,  nghe  gọi vang lanh lãnh: “Lên ăn cơm!”. Tiếng ấy mỗi ngày cất lên một lần. Bên nhau nhìn thấy biết. Biết tâm trạng vui, buồn, khi nào nhức khớp, khi nào mệt tim, khi đang nghĩ ngợi, khi nằm, ngồi đọc sách, khi ghi sổ tay, lúc xem tivi, khi phôn bạn gọi, khi nội, khi con cháu, tiếng bà với cháu Cheeri cứ như đôi chim ríu rít. Tiếng động mất ngủ, tiếng dậy sớm lục cục dưới bếp…  Vang tiếng bà dạy cháu Ụt học, ông nghe rộn vang sóng biển vỗ bờ tiếp nối niệm vui. Bà giảng, bà mắng, cháu khóc, cháu cười, cháu nhay, bà cáu bà giận. Có lần bà cầm chiếc đủa cả rượt cháu, cháu vừa chạy vừa mếu vừa cười, ông phải lánh đi để khỏi có ý xen vào. Tối đến cháu dạy cho bà xử dụng di động, hai bà cháu nằm gác chân nhau nghe nhạc… Thoảng ông bắt chợt cái dáng ngồi lắng yên, hướng vạn dặm xa rạng khóe cười. Khi buồn bà lặng lẽ lên gác thắp nén hương thầm lặng với mẹ cha đầy đây cõi thương, chan chứa yêu thương tình mẹ, tình cha!

Từ ngày gặp nhau đến nay tính ra tròn bốn chục mùa Hoa Mai Anh Đào.Hôm nay, Mùa Xuân đang về! Thực tại luôn đang  là,  cả quá khứ ươm mầm tương lai! Ông lướt ý , nhìn lại qua bốn mươi trang hoài niệm… Nhân duyên Chồng  Vợ – Vợ chồng “hương lửa ba sinh”… Bốn mươi năm triền phược của đôi ta trong cuộc sống   khổ đau của con người non sông đất nước luôn ước vọng kiếp sống được làm người. Xã hội biến động từng ngày, con người cuộc sống xã hội khổ đau chồng chất. .. …

Ông và bà gặp nhau như hai Viên Sỏi trên dòng thác lũ cuộc đời tựa vào nhau mà sống trong dòng nước đen tìm nguồn nước trong sống sáng  Ông thấy quý và yêu thương  Bà nhiều hơn. Lẽ sống của con người, Sống Với- Sống Yêu Thương, tương tức tương nhập  là điều thiêng liêng, là quyền con người sống trong cuộc sống con người nhân loại yêu thương! Ông đã được Bà âm thầm hiểu, chia sẽ: -“Ông cứ làm điều mà ông cho là đúng!”- “Trăm dâu đỗ đầu tằm” ! Ông bỏ dạy học vào rừng làm tiều phu, bà ôm trọn gánh lo toan cửa nhà êm ấm, hai con ăn học nên người!

Bà là con út trong gia đình tám anh chị em. Viên sỏi được cha mẹ bế bồng “ Chạy” vào Nam và đặt luôn cho cái tên để nhớ cuộc di cư trên dòng lịch sử đất nước . Vào Sài gòn, rồi gia đình lên miền đất Bảo Lộc định cư từ những năm sáu mươi, trồng dâu nuôi tằm… Thế hệ trước đã đi qua, niềm yêu mẹ cha đã ươm trồng trao cho đàn con, cho đứa con rễ. Chàng rễ gốc gác cha Cần Thơ, mẹ Mỹ Tho. Cha mẹ đều là con cả, cả hai ôm gánh thương bương chải tìm việc làm để giúp mẹ chăm sóc thêm cho đàn em, cả hai cha mất sớm trong chiến tranh. Cha mẹ gặp nhau tại xứ sở thần tiên Đà Lạt. Cha lên đây thi vào làm công chức ty Ngân Khố Đà Lạt, sau chuyển qua ty Trước Bạ. Đến đời con, nhân duyên cuộc sống xã hội đất nước chiến tranh hai miền,  rời trường  Sư phạm Đà Lạt 1973 về Di Linh dạy học. Cuộc sống tất cả là duyên! Di Linh là chốn duyên thương của đời con, nơi chan chứa tình người, tình thầy giáo mới vào nghề với đàn bé thơ; nơi gặp gỡ  anh chị em Hướng Đạo,  bao vị phụ huynh, bà con cô bác gần xa khắp thị trấn ….đã thành nhưng người bạn vong niên ! Một bà bán bánh bèo thành mẹ nuôi của anh giáo làng, thêm nhân duyên diệu kỳ đầy thi vị với nhà thơ cùi mù Phùng Chi – Đỗ Ngọc Cam còn ghi lại trong “Lên Đỉnh Ka La nghe chim hót!”; bao hồi ức hoa mơ về những sinh hoạt với các Soeur Nhà Dòng Vinh Sơn, Trại Cùi. Di Linh Miền Đất Mật đón hai viên sỏi duyên lành thành chồng thành vợ ! Một Đoá Hoa   yêu thương kết tinh yêu thương Chồng Vợ ra đời, Vợ Chồng ý hợp, thuận dòng cuộc sống.  Thấu hiểu tình cảm của cô con út dành cho mẹ cha, 1982 ông đưa vợ con về Bảo Lộc miền quê ngoại. Thêm một đóa hoa chào đời, hai cháu Tố Tâm và Đông Quỳ lớn lên trong vòng tay  đại gia đình bên ngoại. Mỗi hoài niệm về cuộc sống ông và bà cùng trãi qua, bao đắng cay ngọt bùi là bao yêu thương bừng sáng sống dậy  trong vòng tay lớn đậm đà yêu thương! Tinh thương Nội Ngoại chan chứa dồn về… Dịu dàng lắng yên, Đất Trời Bảo Lộc – không gian như vang khúc nhạc của mỗi buổi chiều tà, của mỗi buổi sáng ánh mặt trời lên trắng đẹp vườn Ca phê theo mùa trổ hoa, kết trái …

2.Dễ gì để có một mối nhân duyên Chồng  Vợ được sống trọn bên nhau giữa cõi đời! Vợ chồng là Duyên, là món quà cuộc sống của nhau, hai mà một. Từng ngày từng giờ, với tất cả yêu thương , quen dần, hiểu ra những trái chứng trở trời của nhau, hiểu nhau nương chìu, dìu nhau, tự biết,chấp nhận, chuyển hóa,  vươn cao!. Mở mắt thấy nhau, lẽ thương lẽ thường như sáng sớm mặt trời lên! Rồi sẽ đến một ngày, chỉ một trong hai đón mặt trời lên! Ông biết ngày ấy Mặt Trời vẫn tỏa sáng, Ánh Sáng yêu thương có bao giờ lặn tắt.Những đoá hoa đời kết tinh Chồng Vợ -Con, Cháu…trong một dòng sống sáng yêu thương sẽ mãi còn … Khi thương nhau,yêu nhau, thương  yêu  những niềm đau của cõi người, con cháu sẽ tiếp nối sự sống yêu thương nguồn cội!…

Cõi đời cuộc sống Từ Sinh!  “Mỗi người chỉ một mẹ thôi!”Con đến với đời từ tình mẹ, tình cha. Con người hiệp Ý dựng nên cõi đời bằng cuộc sống lứa đôi, ân tình chồng vợ mà sáng ngời giữa đời Ánh Sáng Đạo Hiếu Đạo Nhân!  Đạo Đời- Đời Đạo; Sáng Sống -Sống Sáng! Cuộc sống Con Người là Ánh Sáng. Không có Ánh Sáng làm sao có Sự Sống!?

Con là Con của Mẹ của Cha – Cha, Mẹ là Cha Mẹ của Con – Tất cả sống chung dưới một mái nhà, tất cả sống cùng  một nhịp đập trái tim yêu thương, trong bất cứ hoàn cảnh  cũng vẫn phải sống! Yêu Thương-Ý-Trí Huệ là Con đường Sống Sáng !Giữ gìn Tất cả sẽ có Tất cả! Tất cả là Một, Một là Tất cả!

Sống với Lẽ Thương – Lẽ Thường của cõi đời. Sống với Ánh Sáng Yêu thương Con người! Lặng lẽ yêu, lặng lẽ thương! Mặt trời lên sẽ sáng soi tăm tối;  Mặt trời lên xua tan giá lạnh. “Thương Người- Thường Mình; Thương Mình-Thương. Từ Tâm mà Thương; từ Trí mà Thương. Thương là Tối Thượng!”    Lẽ Thương – Lẽ Thường, Sống Sáng Sáng Sống Yêu Thương, mãi mãi Thương yêu-Yêu thương!

NK

 

3.… Dưới Ánh Sáng Mặt Trời -Cây đời mãi mãi xanh tươi….

Hoàng Liên

MTQVCon Người, cuộc sống muôn loài, tất cả đều sống sáng dưới Ánh Sáng Mặt Trời. Ánh Sáng Mặt Trời là nguồn Sáng Sống cho Cuộc sống Con Người, muôn loài trong cuộc sống thế gian! Không ai có thể lấy tay che  được ánh sáng Mặt trời. Không có Ánh Sáng trái đất trở thành ngục tối, tất cả con người, cuộc sống muôn loài sẽ không thành Người, không có cuộc sống muôn loài sinh sôi…

Con Người sống trên mặt đất, dưới ánh sáng Mặt Trời, muôn loài sự sống cứ ngời ngời Sống Sáng ngời, dù có những tàn cây lớn, nhỏ, những áng mây che, dù có nhưng cơn mưa vần vũ, dù có nhưng cơn bão tố, dù có thiếu ánh sáng sáng ngời  …nhưng con người cuộc sống muôn loài đều cứ  hướng Ánh Sáng Mặt Trời mà Sống Sáng, Vươn lên…! Không có bất cứ một cái gì, một thế lực nào  có thể ngăn được Ánh Sáng Mặt Trời, bởi vậy, tất cả sự sống, cuộc sống  muôn loài, con người trên mặt đất này đều nhìn thấy rõ, Sống Biết tỏ tường…

Con Người ai cũng sống trong một xã hội, đất nước, đều có một quá khứ- lịch sử, hiện tại-bây giờ và đều hướng đến tương lai. Tương lai  Con Người Cuộc sống- Cuộc sống Con Người ở đâu?-Luôn luôn ở  hiện tại bây giờ, là cuộc sống của chính mỗi con người trong hiện tại; là cuộc sống của mỗi con người với  thân thuộc của chính mình- Ông Bà, Cha, Mẹ, Con Cháu Nội, Ngoại gần, xa…Đó chính là Cuộc sống Với Người Trước và cuộc sống Chính Mình Mai Sau, và, còn cuộc sống mãi mãi của chính riêng mình-Sống không bao giờ chết– chính là cuộc sống chính mình sau khi bỏ thân giả hợp, vô thường này….Nhìn lại cuộc sống con người xã hội tất các dân tộc, đất nước trong thế giới này ai cũng như vậy, nhất là Thế giới Con người- Xã hội Khoa học bây giờ, với con người dân tộc Việt Nam lại càng thấm đẩm hơn trong dòng lịch sử nòi giống con người Việt nam…..luôn luôn hướng đến Ánh Sáng Mặt Trời mà sống, mà đấu tranh, vươn vai đứng dậy…dù trong bất cứ mọi tình huống, hoàn cảnh nào…

2.Sự Sống Của Con Người là Sự Sáng! Có sự Sáng mới có Sự Sống! Có Sự Sống phải có Sự Sáng!  Không có Sự Sáng làm sao con người thấy được mọi con người, thấy được mọi cuộc sống con người, xã hội, sự vật, muôn loài trong cuộc sống xã hội, đất nước trong cuộc sống nhân loại, thế giới…

Sự Sống là Sự Sáng nên con người luôn luôn Sống Sáng, hướng về Sự Sáng. Sự Sống Sáng của mỗi con người, theo nhà Phật đó là cuộc sống Chánh Sống, Chánh Trí, Chánh Đạo của con đường Bát Chánh Đạo! Đó là cuộc sống CHÁNH TRỊ của mỗi con người với cuộc sống của chính mình. Đó là cuộc sống Chánh Sáng! Con Người Sống là Sống Với! Cuộc sống Xã hội là cuộc sống của mỗi con người trong xã hội hợp thành trong sự tương duyên, tương tức, tương nhập. Người là Ta, Ta là Người. Có Người Có Ta, Có Ta có người. Sự Hợp Thành ấy con người phải luôn luôn sống trong tình Thương Yêu, Bình Đẳng!

Nhân duyên cuộc sống con người thế giới ngày nay, quyền Tự do, Dân chủ, Bình đẳng, Thương yêu …chính là Nhân Quyền của mỗi con người- Quyền Sống, Quyền Tự Do, Quyền mưu cầu Hạnh phúc. Trong xã hội cuộc sống của mỗi người là cuộc sống của tất cả mọi người; cuộc sống của tất cả mọi người là cuộc sống của mỗi người. –Mỗi người vì mọi người; mọi người vì mỗi người! Tất cả đều trên cơ sở quyền dân chủ, bình đẳng, tự do. Sự hợp thành ấy sẽ tạo thành một xã hội có nền Chánh Trị ! Chánh Trị- đó là cuộc sống CHÁNH để Quản Trị chứ không phải là TÀ,  không phải là TẢ, không phải là TA- Độc tài, độc quyền…Những cái “Độc” ấy không bao giờ là CHÁNH, sự” TRỊ” của nó sẽ đi vào con đường TÀ đạo, bất chính, đi ngược lại cuộc sống Con người- xã hội- đất nước…; đi ngược dòng cuộc sống Con Người- Nhân Loại, không vì con người, không vì nước, vì dân. Đó là loại Độc dược-nó đầu độc cuộc sống Tâm Ý- Ý Tâm của mỗi con người, đầu độc tất cả mọi cái ăn, cái uống, cuộc sống tinh thần, vật chất của mỗi con người và mọi lĩnh vực cuộc sống con người toàn xã hội.Nhưng cuộc sống Con Người là của Mỗi Người  nên dù ai có ngăn che Ánh Sáng Mặt Trời cũng không thể nào ngăn che được ; nó  chỉ có thể ngăn che chính nó, ngăn che một  bè, một lũ chúng  nó thôi, những kẻ có cùng quyền, cùng lợi, tham, ác, gian. Chúng sống trong tăm tối mà tưởng rằng ánh sáng; chúng đi vào  ngục tù mà tưởng rằng vùng trời tự do; chúng đi vào con đường cụt mà tưởng rằng đường dài; chúng sống không có ngày mai mà tưởng rằng có tương lai; chúng sống với bọn bất thiện, bất lương, với bọn ác gian mà tưởng rằng ta là chúa tể muôn loài…Vô Minh là vậy!

Xã hội đất nước Việt Nam non gần thế kỷ qua trải qua bao nhiêu tang thương, đau khổ, mỗi con người Việt Nam có tình yêu nước, thương nòi, yêu người, yêu cuộc sống  xã hội, đất nước, ai chẵng có cuộc sống thiện lương…. Sống dưới Ánh Sáng Mặt Trời nhìn cuộc sống con người xã hội trong mối quan hệ tương liên…..ai mà không thấy! Những bài học Lịch sử Con Người dân tộc Việt Nam hơn bốn ngàn năm qua rất rõ ràng.. Chỉ có loài Cú vọ mới không dám  nhìn thẳng vào ánh sáng, nhìn  thẳng vào sự thật lịch sử-xã hội, nhìn vào cuộc sống con người  mà thôi!

… Dưới Ánh Sáng Mặt Trời -cây đời mãi mãi xanh tươi…!.

 

4.Đất Nước Cuộc Sống Con Người

QN

Phu Dong

1.Sống trong cuộc đời này , làm Người không ai không   có một đất nước, quê hương ! Quê hương, Đất Nước là Cuộc sống Con Người!

Yêu Quê Hương là yêu Đất,  Yêu Nước, yêu không gian sự sống mặt đất, bầu trời, yêu ánh sáng Mặt Trời, yêu từng hạt nắng, giọt mưa,con sông, dòng suối, biển cả, núi non, một cơn gió thoảng, ánh sáng trăng rằm, nụ cười ban sáng, lời ru của Mẹ, cuộc sống   ngày và đêm…

Quê hương-Đất, nước, ánh sáng, không gian, muôn duyên sáng sống-sống sáng   duyên sinh   cuộc sống con người, muôn loài , vạn vật yêu thương. Có Đất không có Nước, muôn duyên làm sao có cuộc sống con người sinh sôi, yêu thương, gìn giữ, dựng xây đất nước, yêu thương con người… Đứng chân trên Mặt đất Con Người Sống với Con Người, Yêu thương Con Người, cuộc sống dân chủ, bình đẳng, sống đời tự do. ..

Con người sống rời khỏi mặt đất, quê hương sẽ không còn sức mạnh, sức mạnh đó là  Sự Sống, Sự Sáng của Con Người, của Đất, của Nước, của bầu trời đất nước, quê hương với muôn duyên cho ta từng hơi thở sự sống , làm Người trong bầu trời, mặt đất quê hương  … Sức mạnh đó cũng là những giá trị tinh thần,, tình cảm thiêng liêng sự sống của mỗi con người yêu thương Cha Mẹ, Tổ tiên ,Tiên hiền, Tổ Quốc nước non lịch sử ngàn đời , của cuộc sống con người lịch sử hôm nay và mai sau… Với Người việt Nam, Tình Yêu nước   rất là mãnh liệt, thấm đậm vào huyết mạch, tâm can của con người giống nòi Việt, giống nòi đã từng bị mất đất, mất nước , cả văn hóa, chữ viết, và những giá trị văn hóa Tâm linh, cội nguồn lịch sử….bởi giặc phương Bắc cả ngàn năm, bởi giặc Pháp cả trăm năm nhưng vẫn giành lại được đất nước, không mất đi văn hóa giống nòi; vẫn giành lại quyền độc lập , tự chủ, gìn giữ giang san… Giữ đất, giữ Nước; Có Đất, có Nước…có tất cả

2.Cuộc đời là Vô Thường, Con Người sống trong Ngôi Nhà chung Vũ Trụ-Trái đất theo lẽ vô thường!  Con Người sống biết ơn Trời Đất, tạ ơn Đất Trời, giữ gìn Tâm Thân Con người sự sống thiêng liêng…Khi con người chỉ biết tôn thờ vật chất, chạy theo Quyền, Lợi, Danh, cướp đi sự sống của người khác, Sống không vì Người, họ sẽ chẵng biết mình; con người tự biến mình thành vật chất vô tri, tạo nghiệp, không có cuộc sống Tâm linh Sống Sáng, không biết cuộc sống mai sau của mình….

Sống dưới Ánh Sáng Mặt Trời, bầu trời xanh, màu xanh sự sống, Có Đất, có Người, Con Người Cuộc sống muôn duyên làm nên Trái đất luôn có bộ Mặt Người, là sự sống của Cha Trời, Mẹ Đất! Đất cho ta Sống , Đất chẵng riêng ai nhưng là Của Mỗi Con Người và cũng là Tất cả, đó là ngôi Nhà Chung mà người   khai phá , khai canh, mở nước, hợp Duyên, hợp Lực, hợp Trí, Hợp Tâm, hợp Thành….để tạo dựng nên cuộc sống con người, xã hội, truyền đời cuộc sống Con Người cho hôm qua, hôm nay và nghìn đời mai sau..

Thế giới của Người – Trời-Đất , không gian sự sống Hai mà Một. Có sự “giao hoan”- Duyên Sinh Cuộc Sống Con Người . Người yêu Đất, Đất yêu Người, cả hai cho nhau sự sống. Người yêu Đất vì Đất là hoa, là trái, là ruộng lúa ngô khoai….; là mật ngọt, hương thơm….; là con sông, dòng suối, là núi, là rừng, là muôn loài, vạn vật…; là những di tích lịch sử, văn hóa của Nước, của Làng, của từng dòng Họ; là câu hò, điệu múa, tiếng hát, vần thơ, lời hịch ” Nam quốc sơn hà Nam Đế cư, tịch nhiên định phận tại thiên thư….”; là nơi chôn nhau cắt rốn, nơi ấp ủ cái thân con người khi người rời bỏ cuộc sống thế gian trả thân về với muôn duyên, nơi linh thiêng, đời đời tiếp nối, từ ngàn đời trước đến ngàn đời sau và mãi mãi… Nơi chốn ấy là Nhà; Nơi chốn ấy là Làng; Nơi chốn ấy là Nước; Nơi ấy, tất cả là Cuộc  sống…

3.Con Người sống với ĐẤT- NƯỚC – tạo nên Cuộc Sống Con Người, Cuộc Sống chính mình , và những gía trị Ân Tình thiêng liêng, Ân Cha, Nghĩa Mẹ, Tổ Tiên, những đấng Tiên Hiền, Anh Hùng lịch sử, nước non, hy sinh, bảo vệ, gìn giữ từ trong cuộc sống dựng xây, cả trong những lúc Đất Nước nguy biến, con người khổ đau.. … Với Con người Việt Nam ta Tình cảm yêu nước luôn là tình yêu trong sáng và rất là cụ thể! Con Người luôn có tình thương Yêu Cha, Kính Mẹ,yêu Con, yêu Cháu , Nội Ngoại xa gần, yêu thương trăm họ, “một bọc đồng bào” mới biết Yêu Người, Tiên Hiền, Tổ Quốc thiêng liêng!

Truyền thống lịch sử Việt từ ngàn xưa – giữ làng là giữ nước; giữ nước-giữ làng; Giặc đến nhà đàn bà cũng phải đánh! Mất Đất là Mất Nước. Mất nước vì bị cướp đất, con người bị bật khỏi gốc rễ sống của mình, khỏi Tổ tiên của mình. Không còn chốn ở thì làm sao có nơi về, làm sao còn nơi để thờ tự Tổ tiên; không có Tổ Tiên thì làm sao có Tổ Quốc, bởi vậy mà mỗi con người Việt luôn bám đất, giữ đất , giữ làng, giữ gìn bảo vệ Con Người Cuộc sống- Cuộc sống Con Người, dám xả thân giữ Làng, giữ nước, chống lại bất cứ mọi thế lực, mọi kẻ thù xâm lược, cướp nước…

 Mất Đất là Mất Nước,Mất nước con người trở thành nô lệ, nô lệ chính trên đất nước, tổ tiên của chính mình. Chẵng còn quyền sống, lấy gì còn quyền tự do, mưu cầu hạnh phúc. Sống chính trên quê hương, đất nước mình nhưng lại bị tha hương, ly hương trên chính quê hương, đất nước mình. Đất nước là Sự Sống , Tổ quốc là thiêng liêng! Bất cứ sự nhân danh nào mà buộc con người rời khỏi đất của mình, của Tổ Tiên ngàn đời khai phá, dựng xây cũng đều là kẻ vô Tổ quốc,  những kẻ đó đang sống trên quê hương, đất nước mình nhưng đang trở thành kẻ phản bội Tổ Quốc, đồng lỏa với kẻ bán nước, kẻ thù cướp nước, mọi sự nhân danh đều là ngụy biện… .

Làm Người phải có Đạo, có Đức, có Nhân, phải biết yêu thương Con Người Cuộc sống- Cuộc sống Con Người mới có Đời sống Đạo, Đời Đạo- Đạo Đời, Sống với Tâm Sáng , Sống làm Người, sống có Tổ Quốc, nếu sống không Yêu Người, yêu Đất, yêu nước, yêu dân, yêu thương Cuộc Sống Con Người thì sao gọi là Yêu Nước và làm gì có Tổ Quốc mà nhân danh…

QN

5.BÀI THƠ TỰ SỰ

Tưởng nhớ Mệ

 Hoàng Như Thuỷ An

hoa cuc

 

Mỗi ngày tôi đi trên cầu Đ này

Buổi trưa trên cầu  buổi chiều trên cầu

Đêm đêm tôi bước đi với bóng tôi trên cầu

Tôi ăn tôi ngủ-tâm thức tôi ngáy khò khò trên cầu

Tôi thất nghiệp đi hoang trên cầu

Tôi mơ mộng viễn vông tôi khù khờ mê muôi làm kẻ thất tình đứng khóc bên thành cầu

Dẫn trong túi chỉ còn một mẫu bánh mì- thức ăn con chim nhỏ

Tôi vẫn tự tại-đi đi lại lại

Muốn làm kẻ thất chì- sinh bất phùng thời

Ngơ- ngơ- ngáo- ngáo nhó con cá đớp…

                                                                        chân cầu

Mỗi ngày tôi đi bên này qua bên kia cầu

Tôi đi-

           đút hai tay túi quần-

                                               ngữa mặt ngó trời-

                                                                                  đeo bị lủng la lủng lẳng

Lâm râm cầu nguyện chữnghĩa ê- a tội độc thoại nội tâm

Như người điên tỉnh mộng đọc kinh

Như mơ hồ giọng hót con chim thi sĩ (1)núi đồi

Qua cầu tôi quì dưới vầng trăng trước người nữ tu tôi nói lời đau khổ

Người nói bàn tay người run run

Người nói không mọc tóc cho đỡ nuồn rưng rưng

Tôi đâu biết ngày xưa đứng bên cầu lau lách  trắng- tôi đứng trong mơ

Bến bờ hoang vu xa lạ không một bong người qua lại

Tôi muốn xa lánh loài người

Tôi muốn xa lánh những u mê sân hận đảo điên điên đảo mộng tưởng phố phường

Chỉ có ầm ầm thác lũ man rợ thét gào bầy dơi đen quớ quạng trong sương ăn mặt trời đẩm hương thơm vô diệc

Chỉ có mẹ con chim lao xao liếng xiếng chợt thấy mình đầu thai  làm con thơ trẻ dại hoàn lương

Đôi khi bước qua bụi hoa vàng lạc ngó ngu ngơ

Đôi khi chuồn chuồn bay cao bay thấp phập phồng mưa nắng           

Đứng trên cầu

 Tôi đang hát

Hãy hát cùng tôi hỡi con dế nhỏ- mình ta- ta biết

Ta cười ta cười- mình ta- ta hay

Tíc…tíc…lòng ta chỉ muốn rộn núi non cao

Lo tus …(2) lục lạc leng keng

Lotus Lotus…leng keng lục lạc

Long ta ơi hoan hỉ núi non….hề…!

Đêm đêm cầu vọng về vó câu cô độc

 Mà thương ta từ buổi hoang đàng

Mây bay con cá loáng nắng bạc

Gió thổi trắng áo bạc phếch màu

Giờ đây tôi bước đi như gió như mây như làn da trắng mượt mà cây cỏ

Muôn chim khép mình rụt cổ

Vách đá dựng đứng tạc rêu

Mộng mị thấy ta như cục máu đỏ thơm tho oa oa cười khóc

 Ta khóc- ta khóc- mình ta- ta biết

Ta cười- ta cười- mình ta- ta hay

Như người điên mộng mị bất thành lăn lóc  dưới mương ướt sủng

Mưa tôi khóc tôi la tôi thét

Tóc xanh mấy thuở ta nhớ nhớ

Má hồng muôn thuở ta quên quên

Tôi chết đi sống lại mười lần vật vã

 Lạy trời mưa qua

Lạy đêm thương đau đoạ đày dằng xé

 Tôi phải trở về cô đơn nghe con sáo hót

Trong vành nôi cô đơn nghe mẹ ru à ơi

Tôi trở về đùa vui dưới mái hiên nghèo nơi mẹ ta cất cao tiếng hò chằm tơi đan vảy

 Nhất định tôi phải quay về với tôi- những gì tôi có những gì tôi mất

 Tôi phải quay về trước buổi hừng đông của sự sáng tạo

( 19/11/2011)

Hoàng Như Thuỷ An

(1)Nhan đề tập thơ xuất bản nằm 2008

(Tên bản nhạc của KITARO-nhà soạn nhạc người Nhật

(3)Đồ dung đan bằng lá để che mưa nắng

6.Những Điều Sỉ Nhục Và Căm Giận 


Một đất nước luôn có kẻ dẫn đường
Cho người ngoài kéo đến xâm lăng
Cho những cuộc chiến tranh
Đẩy con em ra trận

Những điều sỉ nhục và căm giận
Một xứ sở
Nhà tù lớn hơn trường học
Một dân tộc có nhiều gái điếm nhất thế giới
Có những cái đinh để đóng vào ngón tay
Có những người Việt Nam
Biết mổ bụng ăn gan người Việt


Một đất nước
Đến bây giờ vẫn đói
Không có nhà để ở
Không đủ áo để mặc
Ốm không có thuốc
Vẫn còn những người run rẩy xin ăn

Nỗi sỉ nhục buốt lòng
Khi thấy mẹ ta bảy mươi tuổi lưng còng
Phải làm việc mệt nhoài dưới nắng
Khi thấy lũ em ngày càng hư hỏng
Khi người mình yêu
Nói vào mặt mình những lời ti tiện
Khi bao điều tưởng thiêng liêng trong sạch
Bỗng trở nên ngu xuẩn đê hèn

Khinh mọi người và tự khinh mình
Như chính tay ta đã gây ra mọi việc
Và tất cả không cách nào cứu vãn

Nỗi sỉ nhục ngập tràn trái đất
Khi lẽ phải luôn thuộc về kẻ mạnh
Những nền văn minh chạy theo dục vọng
Những guồng máy xấu xa chà đạp con người

Đi suốt một ngày
Giữa rác rưởi và chết chóc
Luôn thấy bị ném bùn lên mặt
Nói làm sao được nữa những lời yêu

Nghĩ về cha, con sẽ chẳng tự hào
Nỗi tủi nhục làm cha nghẹn thở
Nỗi tức giận làm mặt cha méo mó
Trong hận thù không thể có niềm vui
Nhưng không thể sống yên, không thể được nữa rồi
Nỗi tủi nhục đen sì mỗi cành cây
Nỗi tủi nhục của đứa trẻ chạy trốn
Nỗi tủi nhục trên mỗi bậc thang lười biếng
Trong cốc nước đưa lên môi lạnh ngắt
Trên mỗi dòng tin mỗi ống quần là phẳng
Mỗi chiếc hôn ướt át thì thầm
Mỗi nấm mồ bị vùi dập lãng quên
Trên bàn tay đưa ra trên mỗi bức tường
Nỗi tủi nhục tội lỗi nỗi tủi nhục kinh hoàng
Trên vệt máu bầm đen trên nụ cười thỏa mãn

Cha chẳng có gì để lại cho con
Ngoài một cửa sổ trống trơn
Ngoài một tấm lòng tủi nhục và căm giận
Ngoài kỷ niệm về những năm tàn khốc
Cho một ngày con được sống thương yêu

Di cảo 1972-1975.https://xuandienhannom.blogspot.com/2016/08/lan-truyen-mot-bai-tho-trong-di-cao-luu.html

 

7.ĐẤT NƯỚC MÌNH NGỘ QUÁ PHẢI KHÔNG ANH

  Trần Thị Lam
Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi…

Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…

Đất nước mình buồn quá phải không anh
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa…

Đất nước mình thương quá phải không anh
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu…

Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu…
TRẦN THI LAMTrường PTTH chuyên Hà Tĩnh.

8.XIN ĐỔI KIẾP NÀY

h2Bài thơ “Xin đổi kiếp này” của em Nguyễn Bích Ngân, học sinh lớp 8A1, Trường THCS Nguyễn Đình Chiểu (Hà Nội)

Bích Ngân cùng ông ngoại. Ảnh: NVCC

 

Nếu đổi được kiếp này tôi xin hóa thành cây,
Thử những nhát rìu rạch sâu da thịt.
Trong biển lửa bập bùng thử mình cháy khét,
Thử chịu khói độc tàn, thử sống kiên trung.

Nếu đổi được kiếp này, tôi xin hóa ruộng đồng,
Thử nếm vị thuốc sâu, thử sặc mùi hóa chất,
Thử chịu bão giông, thử sâu rày, khô khát,
Thử ngập mặn, triều cường, núi lửa, sóng thần dâng.

Nếu đổi được kiếp này, tôi xin hóa đại dương,
Thử dầu loang hắc nồng, mùi cá trôi hôi thối,
Đau vì kiệt tài nguyên, khổ vì không biết nói,
Thử biết gồng mình, thử quằn quại đứng lên.

Nếu đổi được kiếp này, tôi xin làm không khí,
Thử khói bụi ngày đêm, thử ngột ngạt trưa hè,
Thử không còn trong xanh vì lũ người ích kỷ,
Thử tiếng ồn đinh tai, thử cái chết cận kề.

Tôi làm gì đây? Khi vẫn kiếp con người!
Tôi nhận về bao nhiêu? Tôi lấy gì trả lại?
Tôi phá hoại những gì? Tôi đã từng hối cải?
Xin đổi được kiếp này…!
Trời đất có cho tôi???

 

9.Sáng tạo nghệ thuật là sự trở về chính mình

Hoàng Như Thuỷ An

hnta-2Tôi từng đi lang thang trên những con đường này.Tôi đi không có mục đích.theo cách nói tiểu thuyết, một người bạn đã nói với tôi rằng:”Chàng sống như thế cho đến ngày cuối cùng của đời chàng”.Tôi đi . Tôi độc thoại nội tâm bằng ngôn ngữ thoại hơn ngôn ngữ viết. Người nghệ sĩ không có cách nào hơn là sự chân thật.Chân thật trong tác phẩm. Chân  that trong cuộc sống. Chuyện cơm áo đôi khi làm người ta dối trá.Như thế, người nghệ sĩ phỉ có bản lĩnh, vượt lên những đời sống tầm thường.

Hồi tôi đi học ở Sài Gòn, có lần theo sinh viên, học sinh xuống đường, tôi khóc.Thất tình tôi khóc.Viết kịch không cầm được nước mắt, tôi khóc.Tôi làm việc tại Hội Văn Nghệ.Thấy tôi có vài cuộc triển lãm, họ muốn kết nạp tôi vào Hội Mỹ thuật Việt Nam.Tôi không vào.Sau đó tôi nghỉ hưu sớm.Tôi bỏ ra khỏi hội. Tôi muốn làm nghệ sĩ tự do.Thời gian đó, tôi có ý định đi tu.

Tôi thường khi đi trên đường, đầu cúi xuống, cũng chẵng nhìn ai, rưng rưng muốn khóc.Một hôm tôi nghĩ đến hình ảnh Bồ Đề Đạt Ma Tổ Sư với cành cây và chiếc hài qua song.Bỗng dưng, Người lay động tâm thức tôi.Hình ảnh đã gợi cho tôi vẽ bức tranh” Nhà Thơ I” và triển lãm tại Gallery Lã Vọng Hồng Kông mua, ne67n hôm khai mạc hoạ sĩ Hồ Hữu Thủ nói vo7i1n tôi rằng: Ông bán cái chân dung ông rồi”.Tôi vie6t1ki5ch bản-“ Chim về trời’ đạt giải nhì do Đoàm Múa Rồi TP Hồ Chí Minh tổ chức.Vịch ấy nói về những đứa con bị bỏ rơi saau hoá thành chim, bướm, hoa. Nhà văn Trần thuỳ Mai đọc kịch bản, nói với tôi rằng”-Anh viết cho đứa con anh”.

hnta-1Thưa quý vị, làm thơ hay vẽ nghĩa là  sáng tạo-là cách tự thể hiện mình bằng cách đi đến cái tận cùng rốt ráo nhất, thiêng liêng nhất, cao viễn nhất. Hay nói cách khác, sáng tạo nghệ thuật là sự trở về chính mình.Một sự trở về trong cuộc đời dù sự đau thương, mất mát.

Và bây giờ tôi xin đọc một đoạn ngắn trong bài thơ “Ngày và đêm I&II” cũng là cách tự thể hiện mình:” Có những lúc tôi ngồi với  ai mà phiền muộn. Có những lúc tôi ngồi với ai mà chẵng phiền muộn gì. Có khuôn mặt ai ngồi cạnh tôi lặng thinh. Và ai đó gọi tên Một- Hoàng – Như- Thuỷ An lãng tử. Một kẻ sống hết mình với cây cỏ.

Cuối cùng, theo cách nói tự sướng thời thượng:” Tôi chúc tôi cô đơn. Tôi chúc tôi nghèo khổ. Tôi chúc tôi bệnh tật”. Vâng, cũng là cách tự sướng với chính mình vậy…hê!…hê!…

 

hnta-5

hnta-6

hnta-7

hnta-8

10.MẠ TÔI-TIẾNG THÔNG REO

            –XUÂN Ý Ý XUÂN

IMG_2077I.Khi ba tôi mất, mạ như cây liễu rủ, khuôn mặt thất thần, ngẩn ngơ trong chiếc áo tang đứng giữa hai hàng hoa phúng thật xót xa, ngỡ mạ sẽ theo ba bất cứ lúc nào bởi làm sao có thể sống một mình khi ba mạ nương tựa vào nhau đến hơn 60 năm.

Vậy mà thoắt cái đã đến cái giỗ thứ 6. Sâm, đứa em trai thứ 11 chợt nghĩ:

-Mình giỗ ba cúng chay vào ngày còn sống, ngày ba mất mình cúng mặn và mời bà con, bạn bè đến dự. Vậy hôm đó mình làm sinh nhật mạ luôn vì có đầy đủ anh chị em, mình không làm thượng thọ mà chỉ mừng sinh nhật thôi bởi hiếm ai mà có sinh nhật thứ 90

Rồi hắn tự đi ra đặt bánh và nhất định không cho đứa nào hùn tiền mua. Mạ tôi đi cắt tóc, gội đầu, đánh chút phấn hồng, cười lỏn lẻn trước hai ổ bánh và trong vòng tay yêu mến của mọi người.

Ở tuổi 90 mạ tôi trí nhớ trả về hư vô  ( Đỗ Trung Quân) nhưng có những điều mà mạ tôi xem như là nguyên tắc sống của mình: mạ quên tên con cháu nhưng chị Liên, chị Bá , Hạnh là con dâu bên cạnh mạ, mạ không lầm lẫn. Mạ nhớ Yến, vợ Lâm ở bên Mỹ; nhắc đến Nhàn Lạc  mạ kể :

-Nhàn làm ở Thượng Hải, hôm nó về còn cho mạ 3 triệu để tiêu.

Cười khoe:

-Hoành Mai ở Saigon hay gởi sữa cho mạ nhưng mỗi lần ai về mạ lại mua loại cà phê mà Mai thích.

-Cúc Cẩn nấu phở ngon. Mỗi sáng mạ lên ăn, hắn còn pha thêm ly bạc sỉu

Ngậm ngùi than:

-Thương cho Mai Sâm,  vợ con lận đận.

Tuy hay quên nhưng mạ không nói sai điều mình không chắc. Hoành lên giỗ ba, mạ ngắm tới, ngắm lui:

-Đố mạ ai đây?

Đôi mắt xám xanh có chút áy náy:

-Mạ không nhớ. Dạo này hay quên.

-Vậy mạ đọc tên mấy đứa con đi, rồi nhớ xem nó là đứa nào.

-Việt..không phải. Hoàng…không phải…à Hoành phải rồi.

Có đứa cắc cớ:

-Vậy Hoành con ai.

Đôi mắt lóe lên sự tính quái:

-Con ông Thượng. ( người dân Dalat ngày xưa hay gọi người dân tộc là người Thượng , người ở trên núi cao)

Mạ sống khỏe nhờ tính hài hước của mình.

-Mạ! Con dâu ba đẹp không ?

-Cũng thường thôi.

-Mạ nói sao chớ con trai ba phải lựa vợ đẹp chớ sao lại thường

-Vợ đẹp là vợ người ta.

-Vậy trong các con dâu ai đẹp nhất.

-Ai cũng đẹp bằng nhau.

-Mạ kỳ thiệt: Mai Hoành , Mai Sâm đẹp nhờ trẻ, Nhàn Lạc, Cẩn Cúc, Hạnh Quyền đẹp mặn mà …chị Bá, chị Liên một thời nổi tiếng trong xóm, Yến Lâm đẹp theo model Việt IMG_2075kiều .

Mạ khẳng định:

-Bằng nhau.

-Mạ không công bằng.

Mạ phân trần:

-Mình khen đứa này đẹp, đứa kia nó nghe được nó buồn. Mình không muốn ai buồn hết.

-Vậy con gái ba có đẹp không.

-Cũng thường thôi.

-Cái này mới khó trả lời nè: vợ ba có đẹp không.

Mạ cười với chiếc lúm đồng tiền:

-Đẹp. Không đẹp sao ba lấy.

-Ủa! Chứ ai mới nói là vợ đẹp là vợ người ta.

-Người ta khác, mình khác.

Trời thương cho mạ một sức khỏe tốt, mạ tự mình lo mọi việc cá nhân. Thỉnh thoảng lại chống gậy nương theo tay vịn mà Hạnh làm thêm ở bậc cầu thang cho mạ dễ bước, mạ đi lòng vòng lên chợ Mỹ Thành hoặc ra đầu đường xem Lạc ngồi uống cà phê. Đôi khi bệnh đau lưng làm mạ khổ sở :

-Mạ đau lưng ghê. Chắc mạ chết mất.

Có đứa an ủi :

-Mạ có thấy ai đau lưng mà chết không. Người ta ung thư mới chết chứ đau lưng chỉ khó chịu thôi.

-Ừ ha. Mạ giờ gần đất xa trời.

-Ai mà chả gần đất xa trời, chỉ có Cún con Cẩn mới gần trời xa đất.

Mạ ngạc nhiên :

-Sao lạ vậy.

-Thì nó là tiếp viên hàng không. Trên máy bay thì phải gần trời hơn đất chứ.

Mạ không có tính cay nghiệt, không bắt lỗi cũng chẳng chê bai nên chi con cháu, dâu con hay ghé về thăm và đem đồ ăn cho mạ. Anh Việt phải lên tiếng :

-Mạ ăn không nhớ nên đứa nào đem đồ ăn về cho mạ, phải để ý không mạ cứ ăn hoài thì mệt bụng.

Ngày xưa ông ngoại có ba cô con gái, ông đặt tên ba loại hoa : Mai , Huệ, Lan. Mạ là cành hoa huệ trắng muốt :

Vẫn nhành huệ trắng đẹp thanh cao

Vẫn mảnh mai bóng lá trúc đào

Vẫn cả mùa xuân hoa bướm dựng

Mùa xuân như ý mộng xôn xao (Việt Trang)

Nhưng mạ tôi bản tính cương trực như đàn ông, mạ thích được sống mạnh mẽ vươn cao, lúc chúng tôi còn nhỏ, mạ thường ru :

Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo. ( Nguyễn Công Trứ)

Ai đã từng lên đồi thông, nằm dưới gốc cây, mắt nhìn trời xanh, lắng tai nghe tiếng thông reo mới cảm nhận một âm thanh trầm hùng, bất tận khiến mình chỉ muốn thoát trần

tháng 8 năm 2016

Phạm Mai Hương

Mạ tôi Xuân Ý- Ý Xuân!

hoa sen vang Mạ tôi giờ đã 90, tuôi thọ xưa nay hiếm và hiếm hơn nữa khi vào tuổi này mạ tôi không bị bệnh nan y tuy đầu óc quên quên nhớ nhớ.

Thuở còn con gái mạ tôi là một cô gái Huế thùy mị, dịu dàng, xinh xắn, lắm người theo đuổi, giờ ở tuôi “ gần đất xa trời ( như mạ thường tự nhận) mạ trở một cụ BÀ dễ mến tuy đôi lúc trái tính trở trời.

Hai tháng trước, sau trận đau phải nằm cấp cứu ở bệnh viện, mạ về nhà và tự nhiên không muốn ăn, mỗi lần ăn là cả một việc nan giải, mạ cứ nói:

-Mạ không muốn ăn.

Khổ thân chị Liên, Hạnh… phải đổi món cho mạ, bánh mì xíu mại, mạ chỉ ăn phần cứng vòng quanh với mẩu cùi loi nhỏ xíu, tô phở Cẩn đem xuống phải tán nhỏ với thịt xay nhuyễn lấy nước, hủ yến sào Khánh Hòa nghiền ra như nước, bởi có chút cứng mạ lè ra… phải năn nỉ:

-Mạ ơi! Cái này của chị Trang gởi về, mạ không ăn chỉ buồn đó.

-Mạ ơi! Mạ thích về Huế thăm dì Bảy không. Phải ăn cái này khỏe mới đi được.

Đôi lúc mạ ăn, có khi mím chặt miệng lại. Biết mạ thích làm toán, các con nháy mắt nhau:

-Khi nào mạ há miệng thì nhớ đút nghe.

-Mạ ơi! 20 cộng 20 bằng mấy.

Đôi mắt mạ sáng lên:

-40

-Hay ghê.40 cộng 40 bằng mấy

-80

Cứ vậy, mà đôi khi đút được mấy miếng cháo. Có lúc mạ không bị lừa

-Mạ! 1 cộng 1 bằng mấy.

Mạ cười cười miệng mím chặt và giơ 2 ngón tay trước sự lém lỉnh của mạ, các con phải bật cười. Không ăn nên mạ gầy hẳn. các con cứ ép ăn, phải dỗ ngon dỗ ngọt. Đôi khi dọn giường thấy mẩu bánh dưới chiếc gối, hóa ra mạ không nuốt mà lừa không ai để ý dấu đi.

Sau trận đau ấy, ban ngày có người trông coi mạ nhưng ban đêm, anh em chúng tôi chia nhau mỗi đứa ngủ với mạ một đêm ( trừ Trang, Lâm ở Mỹ, tôi và Hoành ở Sài Gòn và Chi mất sớm).

Ban ngày mạ đi đứng còn yếu, phải dìu mạ mới ra ghế salon ngồi, Nhưng ban đêm thì thật là lạ, một hôm Quyền trông mạ, Quyền vừa chợp mắt, tỉnh dậy không thấy mạ đâu, Quyền vội bật đầu dậy đi tìm, hóa ra mạ vào nhà vệ sinh nhưng lại ngồi trên chiếc thùng đựng nước. Ngày hôm sau, chị Liên bèn kêu thợ mộc tới làm thêm 2 thành gỗ cao để mạ không leo ra được và trở mình không bị rơi xuống đất.

Mấy ngày sau, cậu Chín và chị Mùi từ Sai Gòn lên thăm, mạ tươi tỉnh hẳn ra, trò chuyện vui vẻ. Tối đó, Cẩn trông mạ, ban ngày đi làm mệt lại ỷ y vào thành giường cao nên Cẩn yên tâm ngủ. Ai ngờ nửa đêm, cậu Chín ngủ phòng bên cạnh, nghe tiếng rên, tỉnh giấc. hóa ra mạ trèo qua được thành giường vào nhà vệ sinh, mệt quá nên nằm dưới sàn. Cẩn vò đầu bức tai ân hận vì mình đểnh đoảng mà mạ đau xương sườn đến 10 ngày sau chưa bớt.

Chị Liên bèn sắm chiếc dây đai vòng quanh lưng mạ với người nào ngủ với mạ, mạ hỏi :

-Sao lại trói mạ lại.

-Đâu có trói, mình cột chung với nhau cho có tình cảm.

Vậy đó, vừa đai vừa ôm mạ ngủ, tôi buồn cười nhớ lại ngày cháu ngoại còn nhỏ xíu, mẹ cháu cột lưng cháu một sợi dậy để cháu chỉ đi loanh quanh phòng khách, không ra tới bếp.

Tự dưng thương mạ ghê nơi!

Trong dòng sống cuộc sống con người, Mạ tôi Xuân Ý- Ý Xuân!

Tháng 10 năm 2016

Phạm Mai Hương

 

11.TÌM MƠ ƯỚC…

Hoài Linh Vũ

                                                                                         TÌM

                       Hoa Mo Anh mãi hoài phiêu lãng

                        Em thắc thỏm nhớ nhung

                        Dòng đời trôi lặng lẽ

                Tìm nhau giữa muôn trùng…

                          

                           

                        Ta mơ giấc yên bình

                        Rỡ ràng đón bình minh

                        Ngày vàng sao chóng vánh

                        Mơ lời êm chân tình.

                                                     2014

              ƯỚC

              Bên trời thương nhớ em ước mơ

              Hò hẹn vòng tay ấm nguyện thề

              Mai mốt đường trăng xưa sắc úa

                Em về quấn quýt giấc hôn mê!

                   2014

              

GỞI

                Em có về bên ấy

                 Mang giùm những yêu thương

                 Một thời hoa niên đẹp

                  Đã vạn lần tỏa hương.

                                                     2014

    EM

Ta ước về thăm lại chốn xưa

Có hàng dâm bụt hoa lưa thưa

Có em ngày ấy hồn nhiên hát

Lúng liếng mắt cười duyên dưới mưa.

                                                     2015

 

  NHỚ

Ta về bên cũ kỹ

Nghiền ngẫm chuyện thiên thu

Chuyến xe đời nghiệt ngã

Bóng tình nhân mịt mù.

 

12.CÚN KHÓC

Truyện ngắn của Lê Mai 

Lời dẫn của VNT: Thời bây giờ sao lắm chuyện khôi hài trên bình diện quốc gia đại sự! Ở chiến dịch chống tham nhũng, vị tổng chỉ huy lại lo “đánh chuột sẽ vỡ chiếc bình quý”, “chống tham nhũng là ta đánh ta” nên mọi sự diễn ra cứ như đánh trận giả. 

Ở lĩnh vực kỷ cương đạo đức xã hội, từ ông Bộ trưởng Bộ Dục ngọng líu ngọng lo đến quan chức địa phương khi trả lời báo chí về vụ thị xã Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) điều động giáo viên đi làm tiếp tân khiến cộng đồng mạng nổi bão… Ngẫm câu “Văn học là nhân học”, “Nhà văn là thư ký của thời đại”, chợt nghĩ sao ở xứ ta văn xuôi trào phúng dường như rất hiếm tác phẩm đáng đọc.

Điểm lại tôi chỉ thấy: Về tiểu thuyết có “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng, “Đống rác cũ” của Nguyễn Công Hoan và gần đây là “Thời của thánh thần” của Hoàng Minh Tường đáng được xếp vào hạng “Trường thiên hý kịch”. Về truyện ngắn, ngoài các truyện tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan như “Gói đồ nữ trang”, “Thế là mẹ nó đi Tây”… và sau ông, một số truyện ngắn của Vũ Bão là những tiếng cười sâu cay trên nền hiện thực phê phán mang đậm chất tiếu lâm dân gian nên hay đấy nhưng có phần lộ liễu.


Bước sang thế kỷ 21, tôi mới chỉ thấy có 2 tác giả truyện ngắn trào phúng có lối viết gây cười độc đáo: Một là loạt truyện khẩu văn trong tập “Những mảnh vụn ký ức” của Nguyễn Quang Lập vừa mang tính truyền thống của tiếu lâm dân gian lại vừa đậm chất cười kiểu “Le charnu” (tục mà có duyên) của phương Tây. Hai là một số truyện ngắn của Lê Mai đậm chất cười “humour” (hài hước kín) của phương Tây kiểu “Phớt Ăng-Lê” ẩn trong câu chữ tưng tửng nhẹ tênh, buộc người đọc phải nghĩ mới bật ra tiếng cười, càng nghĩ càng cười thắt ruột, có khi ứa nước mắt… 

 Cún khóc

Truyện Lê Mai

 Bạn tôi kể:
Bỗng… một hôm, nhà anh xuất hiện rất nhiều chuột. Chuột đủ loại: Chuột Cống – Chuột Đồng – Chuột Chù – Chuột Nhắt… Chúng quá thể lắm, chẳng coi ai ra gì. Chúng chạy nhảy tùy tiện, tớn tở nô đùa, rúc rích tán tỉnh… Chúng mở vung nồi cơm, chúng hất nắp thùng gạo, chúng xô đổ chai lọ, chúng gặm nát giấy tờ… Nhiều con còn tò mò, vô giáo dục ngó nghiêng tận giường ngủ vợ chồng anh. Tớn lên, chúng còn cắn cả ngón chân, ngón tay đau buốt.
Không chịu được, vợ anh ra chợ mua ngay những tấm keo dính chuột. Người bán hàng dặn: lối nào chuột hay đi thì đặt tấm keo dính vào đấy. Vợ anh rải khắp nhà: cạnh nồi cơm, thùng gạo; dưới gầm giường, gầm tủ; trên nóc bếp, xà nhà… Nhưng… keo chỉ dính được tay vợ, chân con và áo quần của khách. Keo dính chuột thành keo dính người. Chuột vẫn chạy vẫn phá. Vợ anh hậm hực đi mua bẫy. Bẫy cũng giăng khắp nhà. Vợ chồng anh nằm giường căng tai dõi nghe tiếng bẫy sập. Nhưng… bẫy chỉ sập được ngón tay của con, chuột vẫn chạy vẫn phá. Quá tức, vợ anh dùng biện pháp sinh tử: đánh bả! Những ống thuốc diệt chuột mang nhãn MADE IN CHINA được mua về, trộn đều, dầm thẫm những miếng thịt thơm nức. Nhưng… chẳng diệt được con nào, vì chuột nhà anh giở ngón ăn chay. Linh hoạt, vợ anh trộn thuốc với những món chay. Nhưng cũng chẳng diệt được con nào vì chúng lại đồng loạt chuyển sang ăn mặn. Vợ anh ngửa mặt than: chịu!
Vợ chịu thì anh ra tay. Anh dùng sức mạnh tổng hợp. Anh trộn đều thuốc với cả món mặn lẫn món chay rồi giăng bẫy theo binh pháp Tôn Tử. Anh giăng bẫy khắp nơi theo kế “Hoa nở trên cành”. Cẩn thận hơn, mỗi nơi đặt mồi anh đặt món chay xen món mặn theo kế sách “Bỏ mận lấy đào”. Kế sách của anh thành công đến mức ngoài dự tính. Chuột chết hàng loạt. Con chết trong nồi cơm. Con ngoẻo trong bể nước. Con tử trong túi áo. Con tỏi dưới gầm giường. Vợ chồng con cái anh lổm nhổm bò khắp nhà thu lượm xác chuột. Nhưng chỉ hôm sau hơi thối đã tràn ngập ngôi nhà. Mùi thối ngày càng nặng, khó chịu, khó thở hơn cả tiếng chuột kêu, chuột phá. Anh ngửa mặt than: đúng là vinh quang cay đắng!
Thế mà cũng chỉ bình yên được một tuần. Rồi thì lại chuột từ dưới cống đùn lên, lại chuột từ hàng xóm kéo đến. Vợ anh lo lắng, kéo anh ra một chỗ kín đáo quan sát cảnh chuột nhà anh ăn mật. Chai mật ong chỉ còn hơn nửa, miệng chai nhỏ, có tài thánh cũng không rúc đầu vào nổi. Thế mà, chẳng hiểu nó học được kinh nghiệm từ lớp tập huấn nào mà loáng một cái, nó đã thò được đuôi vào chai ngoáy mật, rồi ra một chỗ ngồi, vểnh đuôi lên, ung dung liếm mật. Vợ anh không nói, lo lắng kéo anh ra một chỗ kín đáo quan sát ổ trứng gà. Quả trứng to. Con chuột nhỏ. Anh cười, nói với vợ: lần này thì thách kẹo. Con chuột chẳng nói gì, lặng lẽ giang rộng bốn chân ôm quả trứng, rồi bất ngờ lăn đùng lăn ngửa ra đất. Quả trứng nằm gọn trong lòng. Những con chuột khác sà vào cắn đuôi nó kéo đi. Khoa học – công nghệ hết mức. Anh lác mắt bảo vợ: con này bét cũng tiến sĩ. Vợ anh lo lắng hỏi: Anh thấy không, có tận mắt chứng kiến những cảnh này mới biết mình bất lực. Hết cách.
Anh tủng tẳng nói: Hết là thế nào! Dùng công nghệ sinh học. Mày dùng mẹo sâu thì ông có công nghệ cao. Vợ anh hỏi, anh bảo: nuôi chó, nuôi rắn mà diệt chuột chứ còn thế nào. Nghe anh nói, vợ anh thở phào, nhẹ nhõm, buột miệng khen: Giỏi, giỏi lắm! Lần đầu tiên em thấy cái sự học của anh là có ích. Chứ cứ viết vớ viết vẩn lợi đâu chẳng thấy, có ngày mang vạ vào thân. Để em đi chợ xách con mèo về nuôi, anh nhé. Anh nổi cáu vô cớ, gắt: Không nuôi mèo. Năm thì mười họa mới vồ được con chuột nhắt mà cứ ra vẻ ta đây, quăng con mồi chỗ này, quẳng con mồi chỗ kia, dền dền dứ dứ… sốt ruột. Gặp con chuột to, chuốt cống thì lỉnh. Lại còn lươn lẹo, thông đồng cả với lũ chuột mới kinh. Chẳng phải ngẫu nhiên mà đồng dao có câu:
Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đồng xa
Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo.
 
Đã thế lại còn lúc nào cũng như đoan trang, dịu dàng, hiền thục. Đến ngày động đực mới lòi mặt thật ra. Đêm đêm anh ả lồng lộn ngao ngao trên mái nhà, chẳng còn kín đáo, tế nhị. Mua con chó mà nuôi. Vợ anh vặc lại: Chó… chó… chó em không nuôi. Anh còn nhớ con Milu, Mila nhà ông Dũng không? Mồm cứ xoen xoét chó nhà anh khôn lắm, chỉ cắn trộm không cắn khách. Mình tưởng thật… nào ngờ… nó tợp cho một nhát. Thế là phấp phỏng lo âu cả tháng trời. Ngày nào cũng phải lọ mọ đạp xe đến nhà ông ấy thăm hỏi sức khỏe con chó. Cứ nghĩ đến là kinh đến già. Anh ôn tồn nói: Cứ như em thì nhà mình chỉ còn nước nuôi rắn. Thôi, nghe anh, cứ mua lấy con chó. Nhớ đừng mua giống Tây Tàu – Âu Á gì cả. Cứ mua con chó ta, anh mang tiêm phòng dại là xong. Chó nó thật thà, được việc.
Quả đúng. Từ ngày nhà nuôi chó, chuột nhà anh biệt tích. Con chó suốt ngày lùng sục, săn bắt chuột. Nó bắt chuột cũng nhiều nhưng cũng có phần là do sợ vía nó mà chuột dạt hết sang nhà hàng xóm. Vợ chồng con cái anh mừng lắm. Vợ anh bảo: nó xứng đáng có một cái tên. Anh gật đầu bảo: Phải! Vợ anh lại nói: là Giôn, là Nic hay Milu, Mila… Anh nhăn mặt bảo: Em chỉ sính ngoại. Vợ anh cãi: Ngoài xã hội cái gì chẳng mang tên ngoại. Các siêu thị, nhà hàng, trung tâm, khách sạn… có cái nào mang tên ta không? Thời buổi kinh tế thị trường, giao lưu toàn cầu cái tên cũng phải tây tây một tý mới sang, mới đảm bảo tính hiện đại. Anh đuối lý, nói yếu ớt: Phải… phải. Để anh tính.
Là Giôn, là Nic… không được. Xóa bỏ hận thù, hướng tới tương lai cơ mà. Đặt tên nó là Bíp em ạ. Bíp chứ không phải là Bin. Bíp… Bíp… nghe dân tộc mà hiện đại, lại giữ vững lập trường. Vợ anh cười tít mắt, buột miệng khen: Tên hay, tên hay, kín mọi nhẽ. Đúng là có học có hơn. Anh sướng âm ỉ. Và, con chó có lẽ cũng hài lòng với cái tên chủ đặt.
Nhưng rồi… có sự cố. Ra đường, nó cứ cắm đầu mải miết chạy theo ô tô. Hóa ra đường phố loạn xạ tiếng còi xe: bíp bíp… bíp… Anh lo lắng bảo vợ: có lẽ phải đổi tên cho nó ngay. Đà này, không khéo nó bị tai nạn ô tô, xe máy ngay trong tháng an toàn giao thông này chứ chẳng chơi. Vợ anh gật đầu xác nhận: Anh nói phải. Lần này anh đừng Tây Tàu gì nữa, cứ thuần Việt mà đặt. Ông ra ông – thằng ra thằng đừng nửa dơi nửa chuột. Anh bảo: Em nói đúng. Vàng, Mực, Vện, Đốm… thuần Việt cả đấy nhưng nghe quê quá. Lớ xớ còn bị hiểu lầm. Anh đặt cho nó là Cún. Cún có được không em? Cún! Nghe vừa thuần Việt, thuần chủng vừa tình cảm. Vợ anh buột miệng khen: tên hay, được lắm. Không như cái tên Bíp. Chẳng biết có bíp được ai không, hay chỉ bíp chính mình. Cún! Giỏi lắm. Các cụ mình từ ngàn xưa thường vẫn gọi cháu chắt yêu dấu của mình là Cún con anh nhỉ. Cún. Hay, hay tuyệt. Vừa tình cảm vừa truyền thống. Anh vui với niềm vui của vợ. Cún mừng với niềm vui của chủ.
Tháng năm vùn vụt trôi… Đến một ngày như bao ngày khác, anh đang ngồi đọc báo với chú Cún dịu dàng cuộn dưới chân. Bỗng, Cún bật mình nhỏm dậy, mồm gầm gừ tức giận, mắt vằn những tia uất hận mà bất lực. Sao thế nhỉ? Mọi lần nó lao như tên bắn, mềm mại dũng mãnh như cọp beo. Anh ngước mắt nhìn theo ánh nhìn của Cún. Thì ra, trên xà nhà, nóc nhà có tới bốn năm con chuột đang khả ố trêu ngươi nó. Anh chợt hiểu. Xoa đầu Cún sẻ chia mà anh như thầm thĩ cả với lòng mình: chuột nó leo cao đến thế này thì… chẳng phải chỉ mày mà ngay cả tao cũng bất lực. Trời không chịu đất thì đất phải chịu trời thôi Cún. Không làm gì được chúng nó đâu. Đành làm ngơ mà sống chung với chuột. Chuột dạo này nó leo cao quá, Cún ơi!
Cún lắc đầu, xoay người nằm nghiêng, hết nhìn anh lại nhìn lũ chuột nghênh nghênh diễu hành trên xà nhà, nóc nhà. Có con còn khả ố đái một bãi xuống nền nhà vừa lau sạch bóng. Nếu có cánh, khéo chúng còn bay kín trời giỡn mặt anh và Cún cho mà xem. Những lời động viên chân thành của anh không làm Cún vui lên được. Mắt nó ươn ướt, khẽ rên ư ử.
Hình như Cún… khóc!

https://xuandienhannom.blogspot.com/2016/11/cun-khoc-truyen-ngan-cua-le-mai.html

                

 13.Sài Gòn giải phóng tôi

Nguyễn Quang Lập

H1

“Chuyện quá nhỏ, với nhiều người là không đáng kể, với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy. Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì. Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị. Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng.”

Mãi tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi mới biết thế nào là ngày sinh nhật. Quê tôi người ta chỉ quan tâm tới ngày chết, ngày sinh nhật là cái gì rất phù phiếm. Ngày sinh của tôi ngủ yên trong học bạ, chỉ được nhắc đến mỗi kì chuyển cấp. Từ thuở bé con đến năm 19 tuổi chẳng có ai nhắc tôi ngày sinh nhật, tôi cũng chẳng quan tâm. Đúng ngày “non sông thu về một mối” tôi đang học Bách Khoa Hà Nội, cô giáo dạy toán xác suất đã cho hay đó cũng là ngày sinh nhật của tôi. Thật không ngờ. Tôi vui mừng đến độ muốn bay vào Sài Gòn ngay lập tức, để cùng Sài Gòn tận hưởng “Ngày trọng đại”.

Kẹt nỗi tôi đang học, ba tôi không cho đi. Sau ngày 30 tháng 4 cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ “đã chết”, giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là “triệu phú số một Sài Gòn”. Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là “gia đình bảy đảng viên cộng sản”. Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời kì diệu.

Dù chưa được vào Sài Gòn nhưng tôi đã thấy Sài Gòn qua ba vật phẩm lạ lùng, đó là bút bi, mì tôm và cassette của thằng Minh cùng lớp, ba nó là nhà thơ Viễn Phương ở Sài Gòn gửi ra cho nó. Chúng tôi xúm lại quanh thằng Minh xem nó thao tác viết bút bi, hồi đó gọi là bút nguyên tử. Nó bấm đít bút cái tách, đầu bút nhô ra, và nó viết. Nét mực đều tăm tắp, không cần chấm mực không cần bơm mực, cứ thế là viết. Chúng tôi ai nấy há hốc mồm không thể tin nổi Sài Gòn lại có thể sản xuất được cái bút tài tình thế kia.

Tối hôm đó thằng Minh bóc gói mì tôm bỏ vào bát. Tưởng đó là lương khô chúng tôi không chú ý lắm. Khi thằng Minh đổ nước sôi vào bát, một mùi thơm rất lạ bốc lên, hết thảy chúng tôi đều nuốt nước bọt, đứa nào đứa nấy bỗng đói cồn cào. Thằng Minh túc tắc ăn, chúng tôi vừa nuốt nước bọt vừa cãi nhau. Không đứa nào tin Sài Gòn lại có thể sản xuất được đồ ăn cao cấp thế kia. Có đứa còn bảo đồ ăn đổ nước sôi vào là ăn được ngay, thơm ngon thế kia, chỉ giành cho các nhà du hành vũ trụ, người thường không bao giờ có.

Thằng Minh khoe cái cassette ba nó gửi cho nó để nó học ngoại ngữ. Tới đây thì tôi bị sốc, không ngờ nhà nó giàu thế. Với tôi cassette là tài sản lớn, chỉ những người giàu mới có. Năm 1973 quê tôi lần đầu xuất hiện một cái cassette của một người du học Đông Đức trở về. Cả làng chạy đến xem máy ghi âm mà ai cũng đinh ninh đó là công cụ hoạt động tình báo, người thường không thể có. Suốt mấy ngày liền, dân làng tôi say sưa nói vào máy ghi âm rồi bật máy nghe tiếng của mình. Tôi cũng được nói vào máy ghi âm và thật vọng vô cùng không ngờ tiếng của tôi lại tệ đến thế. Một ngày tôi thấy tài sản lớn ấy trong tay một sinh viên, không còn tin vào mắt mình nữa. Thằng Minh nói, rẻ không à. Thứ này chỉ ghi âm, không có radio, giá hơn chục đồng thôi, bán đầy chợ Bến Thành. Không ai tin thằng Minh cả. Tôi bỉu môi nói với nó, cứt! Rứa Sài Gòn là tây à? Thằng Minh tủm tỉm cười không nói gì, nó mở cassette, lần đầu tiên chúng tôi được nghe nhạc Sài Gòn, tất cả chết lặng trước giọng ca của Khánh Ly trong Sơn ca 7. Kết thúc Sơn ca 7 thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi!

Sài Gòn là tây, điều đó hấp dẫn tôi đến nỗi đêm nào tôi cũng mơ tới Sài Gon. Kì nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn. Ba tôi vẫn bắt tôi không được đi đâu, “ở nhà học hành cho tử tế”, nhưng tôi đủ lớn để bác bỏ sự ngăn cấm của ông. Hơn nữa cô họ tôi rất yêu tôi, đã cho người ra Hà Nội đón tôi vào. Xe chạy ba ngày ba đêm tôi được gặp Sài Gòn.

Tôi sẽ không kể những gì lần đầu tôi thấy trong biệt thự của ông bác tôi, từ máy điều hòa, tủ lạnh, ti vi tới xe máy, ô tô, cầu thang máy và bà giúp việc tuổi năm mươi một mực lễ phép gọi tôi bằng cậu. Ngay mấy cục đá lạnh cần lúc nào có ngay lúc đó cũng đã làm tôi thán phục lắm rồi. Thán phục chứ không ngạc nhiên, vì đó là nhà của ông triệu phú. Xin kể những gì buổi sáng đầu tiên tôi thực sự gặp gỡ Sài Gòn.

Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy giành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời. Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lí.

Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi. Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có. Ai đòi hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu đần. Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt.

Cách đó chưa đầy một tuần, ở Hà Nội tôi đi sắp hàng mua thịt cho anh cả. Cô mậu dịch viên hất hàm hỏi tôi, hết thịt, có đổi thịt sang sườn không? Dù thấy cả một rổ thịt tươi dưới chân cô mậu dịch viên tôi vẫn đáp, dạ có! Tranh cãi với các mậu dịch viên là điều dại dột nhất trần đời. Cô mậu dịch viên ném miếng sườn heo cho tôi. Cô ném mạnh quá, miếng sườn văng vào tôi. Tất nhiên tôi không hề tức giận, tôi cảm ơn cô đã bán sườn cho tôi và vui mừng đã chụp được miếng sườn, không để nó rơi xuống đất. Kể vậy để biết vì sao bà chủ tạp hóa Sài Gòn đã làm tôi sửng sốt.

Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Captain, tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính. Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.

Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum sê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác – Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm Luân và Hành trình trí thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều sách khác. Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nội chuyển vào, sau mới biết sách của Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác – Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên trong này học cả Mác – Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói gì hơn.

Chuyện quá nhỏ, với nhiều người là không đáng kể, với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy. Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì. Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị. Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng.

https://www.facebook.com/notes/nguy%E1%BB%85n-quang-l%E1%BA%ADp/s%C3%A0i-g%C3%B2n-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%B3ng-t%C3%B4i/1605678213081415

 

14. Người phụ nữ đặc biệt nhất trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Cho đến bây giờ, sự ra đi của mạ, sự ra đi của anh vẫn là hai nỗi đau khủng khiếp không gì bù lấp nổi cho tất cả anh chị em chúng tôi. Tất cả.

15.BANG VÔ ĐẠO…

15232226_10202426094409388_5446119440871540521_nTrần Văn Chánh(Viet-studies) – Cho dù không thuộc phái nào trong số hai phái chủ yếu đề cao và bài bác Khổng Tử, nhưng dường như hầu hết ai cũng phải khách quan nhận rằng văn chương trong sách vở kinh điển của Nho gia có nhiều đoạn rất hay, rất “đắc”, hàm súc mà thâm trầm tế nhị về phương diện diễn đạt, khi nó muốn phát biểu bất cứ chuyện gì liên quan đến các vấn đề thuộc chính trị, văn hóa, đạo đức…

Đinh Tấn Lực’s photo

Chẳng hạn, muốn nói về thái độ sống và trách nhiệm của hạng người quân tử tức tầng lớp lãnh đạo hay tầng lớp trên trong xã hội phong kiến thời xưa (phân biệt với đông đảo quần chúng), Khổng Tử chỉ buông ra một câu rất gọn mà dứt khoát, trong Luận ngữ, thiên “Thái Bá”: “Bang vô đạo, phú thả quý yên, sỉ dã” (Khi nước vô đạo nghĩa là đang ở trong tình trạng hắc ám về chính trị mà lo chạy theo lợi danh để mong được giàu và sang là điều đáng hổ thẹn).

Về hai chữ “vô đạo”, Hán ngữ đại từ điển của Trung Quốc nêu lên cả thảy 5 ý nghĩa khác nhau, trong số có 3 nghĩa liên quan chính trị rất rõ: (1) Chỉ tình trạng quốc gia có nền chính trị hôn ám tệ hại, chính sự rối loạn thối nát, người lãnh đạo không trị dân bằng đạo đức (tương ứng với ý nghĩa trong câu vừa dẫn trên); (2) Vô đạo đức, vô hạnh, không thi hành chính đạo, làm những việc xấu ác (như trong câu  “Ngô văn Tống quân vô đạo…”,Ta nghe vua nước Tống làm những chuyện xấu ác, trong Hàn Phi Tử, “ Ngoại trữ thuyết tả thượng”); (3) Kẻ vô đạo, chỉ kẻ xấu không làm việc nhân nghĩa, hoặc vua chúa tàn bạo (như trong câu: “Phạt vô đạo, tru bạo Tần” Đánh kẻ vô đạo, kể tội và giết nhà Tần tàn bạo, trong Sử ký, “Trần Thiệp thế gia”).

Xét các ý nghĩa của cụm từ “vô đạo” như trên thì Việt Nam trong vòng vài chục năm nay rõ ràng đã và đang ở trong tình trạng khó khăn, gần như vô đạo, tức chính trị thối nát và thiên hạ bị mất lòng tin trên diện rộng. Bên cạnh vài nhà lãnh đạo mà dân chúng còn có phần hi vọng được, một bộ phận không nhỏ kẻ khác tham lam vô hạnh/ vô đạo (nghĩa thứ 2 và 3) đã bằng con đường cơ hội hoặc thủ đoạn chính trị chen được vào bộ máy quản lý đất nước, để xảy ra tình trạng “thượng bất chính, hạ tắc loạn”, luật pháp không nghiêm, mà diễn đạt theo nghĩa bình dân dễ hiểu là mạnh ai nấy làm, “trên bảo dưới không nghe”, dẫn đến nhiều thực trạng đau buồn: môi trường thiên nhiên và xã hội bị phá nát, các thang giá trị bị đảo lộn, văn hóa-giáo dục-đạo đức xuống cấp tới mức lâm nguy, xã hội bất công trầm trọng, hố ngăn cách giàu nghèo thêm sâu sắc, quốc nạn tham nhũng, tội ác giết người cùng các loại hình tệ nạn xã hội khác diễn biến phức tạp theo chiều hướng ngày một gia tăng…, vô phương cứu chữa!

Trong khi đó, một nhóm những kẻ thuộc tầng lớp trên nhưng lại bất cố liêm sỉ, cứ hớn hở ngồi trên các vị trí lãnh đạo câu kết lẫn nhau trục lợi và tranh giành quyền lực trước tình trạng ngày càng gian nan điêu đứng của khối quảng đại quần chúng lao động nghèo khổ bao gồm phần lớn là công nhân, công chức cấp thấp, dân nghèo thành thị, đặc biệt nông dân và đồng bào miền núi, những thành phần vốn bị lép vế, không tiền không quyền, chỉ biết mưu sinh chân chính bằng sức lao động trong nền chính trị không có tự do dân chủ và luật pháp nghiêm minh, trùm lên cả một nền kinh tế bất ổn định, lương không đủ sống, do chính những phần tử đặc quyền đặc lợi nêu trên gây ra. Nhóm đặc quyền đặc lợi này, dù bị dư luận phê phán bao nhiêu dường như họ cũng tỏ ra không biết hổ thẹn, trái lại cứ nhơn nhơn hằng ngày không ngượng miệng, nói mãi những câu chỉ đạo chung chung vô nghĩa, vừa giáo điều vừa sáo rỗng, mà chẳng cần biết có đối tượng dân chúng hay nhân sĩ trí thức nào còn muốn được nghe họ nói nữa hay không.

Hạng người như vừa nêu trên trong lịch sử thời nào cũng có, đặc biệt bộc lộ rõ nhất trong các thời kỳ “bang vô đạo”. Thời xưa đó là hàng trăm những ông quan đại thần trong triều (tương đương các quan chức trung ương như bộ trưởng, vụ trưởng vụ phó, cục trưởng cục phó … ngày nay), được chỉ huy bởi vua và tể tướng. Trong điều kiện chính trị hủ bại, nhóm người này từ tể tướng trở xuống đều trở thành những kẻ vô trách nhiệm, ăn hại đái nát, chuyên  ăn hối lộ đè đầu cưỡi cổ đám dân đen nghèo khổ, mà chẳng có kế sách gì để cải cách hay vực dậy hiệu quả nền chính trị trong nước, trái lại còn tìm cách duy trì sự thối nát bằng những luận điệu bảo thủ cũ rích để tiếp tục được hưởng lợi quyền lâu dài, cho cá nhân và cho những nhóm lợi ích liên quan tới mình.

Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam và Trung Quốc, xưa cũng như nay, đều có những giai đoạn chính trị bại hoại tàn tệ gần gần giống như nhau.

Ở Việt Nam, tiêu biểu có thể kể là vào khoảng cuối thời Hậu Lê, như thư viết năm 1766 của giáo sĩ thừa sai Reydellet gởi cho người em trai ở Pháp, đã mô tả rất sinh động tình trạng tệ hại trong nước, với giọng mỉa mai sâu sắc: “Về việc giữ gìn an ninh và luật pháp trong xứ [Đàng Ngoài, tức Bắc Việt] thì có lẽ sẽ rất dài dòng nếu ta đi sâu vào các chi tiết. Tôi chỉ xin nói để chú biết là nhìn tổng quát thì luật lệ ở đây rất đúng đắn, rất hợp lý và được quy định rõ ràng. Chỉ tệ một nỗi là chẳng được kẻ nào tôn trọng cả. Chính những người có phận sự thi hành luật pháp lại là những người phạm luật trước hơn ai hết. Tiền bạc và những tặng vật  đút lót xóa sạch những tội ác. Dù có là đại gian hùng nhưng nếu biết cách che giấu những hành động bất chính của mình thì vẫn là người lương thiện [TVC nhấn mạnh]. Chỉ những kẻ vụng về, những kẻ ngờ nghệch, ngây ngô, những kẻ nghèo hèn là bị trừng phạt thôi. Điều này cho thấy là đức hạnh của con người không đủ sức tạo ra những kẻ có lòng lương thiện” (xem Thư của các giáo sĩ thừa sai, bản Việt dịch từ Pháp ngữ của Nguyễn Minh Hoàng, NXB Văn Học, tr. 74).

Tương tự như vậy, ở Trung Quốc thời xưa, ngay từ giai đoạn đầu nhà Minh (khoảng cuối thế kỷ 14), chính trị đã bộc lộ rõ sự bại hoại vô đạo, khiến một quan chức lớn vừa là nhà văn/ nhà trí thức đương thời là Lưu Cơ (tức Lưu Bá Ôn, 1311-1375) đã không ngăn được nỗi bức xúc, cực lực phê phán một cách sâu sắc hiện trạng quan lại gian tà trong bài “Mại cam giả ngôn” (Lời người bán cam), một tiểu phẩm cổ văn chính luận rất nổi tiếng, nội dung mượn lời người bán cam bình phẩm sự tác tệ của bọn quan chức ăn hại để kết luận bài viết. Đại khái, tác giả trách anh bán cam lừa đảo bán toàn cam bên vỏ ngoài màu mè thấy tươi tốt nhưng bên trong hỏng nát, thì được anh ta đáp lại bằng một luận điệu trông có vẻ rất tự nhiên bình thản: “Ở đời, kẻ lừa gạt người không phải ít, há chỉ có riêng tôi hay sao?… Nay những kẻ đầu đội nón cao to [chỉ giới quan lại cấp cao trong triều]…, nhưng… cướp dấy lên mà không biết ngăn, dân khốn khổ mà không biết cứu, quan lại gian tà mà không biết cấm, pháp luật bại hoại mà không biết sửa, ngồi không ăn tốn lúa trong kho mà không biết nhục. Trông họ ngồi trên nhà cao, cưỡi ngựa lớn, say rượu ngon, no thịt cá, thì kẻ nào mà chẳng vòi vòi đáng sợ…, bề ngoài thì như ngọc như vàng mà bề trong thì như bông nát? Nay ông chẳng xét những kẻ đó mà chỉ xét cam của tôi!”.

Đọc tiểu phẩm cổ văn chính luận dẫn trên, chúng ta thấy dường như tác giả Lưu Cơ đã không tiếc lời mạt sát khinh miệt đám quan lại cấp cao “ngồi không ăn tốn lúa trong kho” còn thậm tệ hơn cả anh bán cam vì nghèo mà không tôn trọng đạo đức kinh doanh đến phải phạm tội lừa đảo.

Ngày nay, đối chiếu với thực trạng Việt Nam, nếu để ý quan sát, sẽ thấy đại khái cứ có khoảng bao nhiêu kẻ thất học vô công rồi nghề lừa đảo, cướp của giết người… phải vào tù ra khám thì có lẽ cũng có chừng ấy không ít hơn những viên chức-quan chức nhà nước bị truy tố, phải tra tay vào còng và bị đăng hình lên báo chí vì một số loại tội phạm như tham ô, móc ngoặc, hối lộ, lừa đảo…. Cho nên câu ca dao dạy trong các trường học “Con ơi nhớ lấy câu này, cướp đêm là giặc cướp ngày là quan” là ám chỉ khá đúng cho tình trạng hiện tại.

Chỉ có điều, ngoài lòng tham và bản năng chạy tội ra thì giữa hai loại kẻ cướp lại có những đặc điểm hầu như khác nhau hoàn toàn. Đại khái: Một đằng thất học vô nghệ, lý lịch đôi khi không rõ ràng, bần cùng sinh đạo tặc; còn đằng kia thì phần nhiều được đào tạo có cấp bằng văn hóa hoặc chuyên môn cao hẳn hoi (kể cả không ít thạc sĩ, tiến sĩ), lý lịch từ quá tốt đến tốt, được tín nhiệm giao cho quyền cao chức trọng, không bần cùng mà vẫn sinh đạo tặc. Đạo tặc loại nào cũng nguy hiểm, hại dân hại nước, cần trừng trị như nhau, nhưng loại đạo tặc quan chức đứng đầu các cơ quan lãnh đạo hành chính hoặc doanh nghiệp nhà nước lớn (như tập đoàn, tổng công ty…) thì lẽ tất nhiên phải có hại cho dân nhiều hơn, vì thực chất dưới tay họ là những cơ quan công quyền hoặc công ty kinh doanh thuộc sở hữu của khoảng 90 triệu dân trong nước.

Cũng như những kẻ giựt dọc khác, hầu hết đạo tặc quan chức khi bị phát hiện đều tìm mọi cách chối tội/ chạy tội,  đôi khi cũng trốn chui trốn nhủi ra nước ngoài, ngành công an phải phát lệnh truy nã; nhưng thường thì họ chỉ được xử lý nội bộ theo kiểu bao che lẫn nhau để hạ cánh an toàn, tiếp tục thụ hưởng sự giàu sang bên cạnh một đám đông dân số nghèo khổ mà chẳng ai làm gì được họ. Đám người này, một số đã về hưu, nếu chưa phạm trọng tội hình sự rõ ràng (không che giấu được) và bị đuổi ra khỏi tổ chức thì hầu hết cũng đều không chịu từ bỏ cái tổ chức chính trị đã nát bét nhưng nhờ đó họ được dung dưỡng trở nên vinh sang giàu có, nhà cao cửa rộng, cộng thêm một số ưu quyền mà thường dân không có. Một số người khác tuy có phẩm cách sạch sẽ trong sáng hơn, cố giữ mình trinh bạch tương đối cho lương tâm đỡ bị cắn rứt tới lúc về hưu, nhưng vẫn không dám mạnh dạn có tiếng nói phản biện trung thực, ngại xin ra khỏi tổ chức, vì sợ bị trù dập, mất các quyền ưu tiên, hoặc ngầm hiểu bản thân mình có thể hi sinh quyền lợi nhưng còn e ảnh hưởng bất lợi đến tương lai con cháu. Xét cho cùng kỳ lý, nhóm thiểu số tạm gọi tốt đẹp này cũng đã bị khéo lợi dụng mà không hay biết, vì kẻ xấu thường tìm cách treo gương họ ra bằng những tấm bằng khen, huân chương để tuyên truyền cho tính ưu việt của thể chế chính trị, khi gọi họ là những người con “ưu tú”, “chân chính”, “anh hùng”… của nhân dân và đất nước XHCN!

Một khi đã trở thành tội phạm, thì nhân cách các đối tượng đều xấu như nhau, nhưng nếu xét “hoàn cảnh” cụ thể thì hạng phạm nhân quan chức gây thiệt hại tiền tỉ cho dân lại đáng bị xã hội khinh chê nguyền rủa hơn, chẳng hạn so với quân trộm chó mạt hạng…, vì những kẻ này vốn đã được xã hội ưu ái, cho ăn học-đào tạo-đề bạt chức vụ, nhờ đó (trên nguyên tắc/ lý thuyết) hiểu biết luật pháp, có điều kiện nhận thức tốt hơn về những gì đáng làm và không nên làm. Vì lòng tham không đáy, họ dám phản bội cả lòng tin của tổ chức cấp trên và của nhân dân, bằng đủ loại thủ đoạn cao cường quỷ quyệt, sẵn sàng vi phạm phép nước để thỏa mãn tham vọng thấp hèn, góp phần tạo nên môi trường xấu và tình trạng bất công,  cũng chính là tạo nên cái điều kiện cơ bản để từ đó liên tục làm nảy sinh các loại tệ nạn xã hội khác.

Ở các cấp lính lác thừa hành nhỏ hơn, noi gương xấu cấp trên, họ không thể kiên nhẫn chịu mãi sự lép vế thu nhập so với thượng cấp, nên một bộ phận không nhỏ đã lần lần trở nên hèn kém hư hỏng bằng đủ mọi loại thủ đoạn kiếm chác rẻ tiền. Một số khác trong họ đã trở thành những phần tử tha hóa ác ôn, ức hiếp bóc lột dân chúng, thường thấy trong những vụ cưỡng chế giải tỏa nhà đất, hoặc dẹp lòng lề đường…; nhân danh nhiệm vụ cấp trên giao, đi đến đâu cũng “đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi” (Nguyễn Du), sẵn sàng thi triển những hành động vô cảm, “phũ tay tồi tàn” ngay cả đối với những phụ nữ nghèo khổ mua gánh bán bưng lương thiện ngoài đường phố để kiếm tiền nuôi con.

Những hình ảnh phản cảm như trên vừa nói gợi chúng ta nhớ đến một tiểu phẩm cổ văn chính luận khác cũng rất nổi tiếng, đó là bài “Bổ xà giả thuyết” (Lời người bắt rắn) của Liễu Tông Nguyên (773-819) thời Đường, nội dung công kích mạnh mẽ vào đám tham quan ô lại và bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với những người dưới đáy xã hội bị bóc lột tận xương tủy, với ý tưởng chính coi chính sách thuế khóa bóc lột dân nghèo còn độc hại hơn cả nọc rắn độc và còn “dữ hơn cọp” nữa. Đại khái, trong câu chuyện, người dân đen ở nông thôn thà liều chết bắt rắn nộp lên quan để được miễn thuế còn hơn phải chịu khổ về nỗi thuế má nặng nề, lại còn bị bắt nạt hiếp đáp trăm chiều: “Bọn lại hung ác tới làng tôi, hò hét ở phía đông phía tây, phá phách ở phía nam phía bắc, ầm ĩ làm cho mọi người kinh hoảng, tới gà chó cũng không được yên”.

Bên cạnh một bộ phận không nhỏ giới quan liêu thối nát đủ cỡ và các cấp thừa hành chỉ biết làm theo lệnh cấp trên, xưa nay còn có một số không ít (chứ không phải tất cả) trí thức nô dịch ăn theo thể chế kinh tế-chính trị bằng cách minh họa/ phụ họa cho những chính sách mị dân, sai lầm. Những người này tuy chưa xứng gọi ăn hại đái nát, một số cũng có hoàn cảnh riêng biệt đáng được thông cảm, nhưng nói chung về mặt chiều sâu còn có hại hơn cả đám lính lác đi dọn dẹp lòng lề đường, trong vai trò đồng lõa của họ với những cái xấu lớn hơn/ gây tác hại nhiều hơn thuộc về đường lối, chính sách.

Trong bối cảnh chính trị Việt Nam hiện tại, một số trong họ là những ông nghị viên hội đồng các tỉnh thành, ủy viên mặt trận này mặt trận nọ, chủ tịch các thứ hội, hoặc thậm chí cả đại biểu Quốc hội, vốn được cơ cấu sẵn để đưa vào tổ chức chính trị nhưng thực chất chỉ hữu danh vô thực, giữ vai trò a dua phụ họa. Đối với hạng trí thức này, có lần tôi đã mạnh dạn viết rõ: “Người ta thường thấy vẫn có không ít trí thức về mặt nhận thức đối với các hiện tình chung của xã hội thì họ vẫn đủ sáng suốt, thấy hết mọi vấn đề, nhưng vì nhiều lý do thực tế của cuộc sống, họ đã chọn lựa thái độ cầu an nên thường không dám tỏ thật thái độ, thậm chí vô hình trung còn đồng lõa với một số điều tệ hại đi ngược với quyền lợi của công chúng. Một số khác trong họ bên ngoài cuộc sống hiền lành và có vẻ trong sạch còn dần dà trở thành những phần tử thỏa hiệp nguy hiểm để hợp lý hóa cho những chủ trương chính sách sai lầm, gọi là ‘văn quá sức phi’, tức tìm cách tô điểm cho những điều bậy bạ trở nên có văn vẻ để mị hoặc quần chúng. Nếu cần tỏ thái độ phê bình, họ chỉ phát biểu vừa phải để giữ mức an toàn cho bản thân và cho những chức vụ đang được nắm giữ, rốt cuộc trở thành những kẻ ngụy tín ngụy biện lúc nào không hay. Họ có thừa khả năng lý luận để biện minh và che giấu cho mặt trái hành động của mình, so với đám tham quan ô lại thì thành phần trí thức dạng này còn nguy hiểm hơn nhiều vì chính họ mới là thủ phạm gián tiếp dung dưỡng, làm trái độn bắc cầu cho những kẻ tham quan ô lại tiếp tục hoành hành. Chuyện này không có gì mới, vì lịch sử đã nhiều lần chứng tỏ, trong một số thời kỳ chính trị hủ bại, một bộ phận của tầng lớp sĩ phu không phải lúc nào cũng đứng về phía binh vực cho quyền lợi của nhân dân lao động” (xem tuần báo Công Giáo Và Dân Tộc, số 1384).

Nhưng nói đi rồi cũng phải nói lại cho đúng sự thật và công bằng sòng phẳng: dẫn đến tình trạng trầm trọng đáng lo như hiện nay không phải do tội lỗi của từng cá nhân riêng lẻ gộp lại, mà do cái tổng thể của kiểu cách/ mô thức tổ chức điều hành xã hội đã không thể không tạo nên tình trạng tha hóa cho mỗi con người mà cá nhân chỉ là sản vật. Nói cách khác, chính là cái thể chế kinh tế-chính trị, mà người ta thường nói giảm đi cho lịch sự tế nhị bằng hai chữ “cơ chế”, thứ cơ chế đã có mấy đời thủ tướng (như Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải…) gợi ý khéo léo cần phải thay đổi (chứ khó nói huỵch toẹt ra vì dù cấp thủ tướng trong cơ chế đó cũng chẳng dám hoặc được tự do phát biểu…), và có lần ông bộ trưởng Bộ Giao thông-Vận tải Đào Đình Bình đã phải ngậm ngùi phát biểu lớn lên giữa phiên họp Quốc hội ngày 15.6.2006 trước khi ông bị bắt buộc phải từ chức: “Cơ chế hiện nay phải thay đổi. Nếu không thay đổi thì bộ trưởng nào ngồi vào đây cũng sẽ mắc khuyết điểm. Tôi từ chức rồi, nhưng các đồng chí sau tôi chắc chắn cũng khó vượt qua” (dẫn lại theo tạp chí Phát Triển Kinh Tế, số 191, tháng 9.2006).

Liên quan sự bất lực của cả hệ thống, rất nhiều quan chức cấp cực lớn trước nay đã thừa nhận công khai, như có thể nhắc lại, chính cựu Thủ tướng Phan Văn Khải khi vừa rời khỏi chính trường cũng có lần phát biểu trả lời phỏng vấn trước Quốc hội: “Rất nhiều lần tôi nói cả hệ thống chính trị chứ không chỉ hệ thống hành chính của chúng ta có vấn đề, cần phải cải cách, chấn chỉnh, nâng cao năng lực, hiệu quả, hiệu lực, chống cho được tham nhũng, tiêu cực, nhũng nhiễu…” (nt.).

Một cái thông bệnh của quan chức các cấp nhà nước trong hệ thống chính trị là thường khi người ta sắp hoặc đã về hưu rồi mới có người thỉnh thoảng dám nói lên một phần sự thật mấy vấn đề cốt lõi về quan điểm/ lập trường chính trị; còn trong khi đương chức, nghĩ mình là phương diện quốc gia, sớm tối xách cặp đi họp/ đi báo cáo/ chỉ đạo… gọi là làm việc nước, để chỉ phát biểu qua loa mấy vấn đề râu ria sự vụ, mà chẳng dám động vào những chỗ bị ngầm hiểu (vì không có văn bản hay luật pháp quy định) là “vùng cấm” hay “vùng nhạy cảm”, vì sợ đi chệch đường lối chính thống sẽ có thể bị chính những đồng chí thân thiết của mình nghi ngờ và quy chụp quan điểm, từ đó có thể “bị đì”, rất khó tiến thân trên con đường sự nghiệp. Hậu quả tất yếu là hầu hết quan chức có chức vụ càng cao lại càng trở nên rụt rè gà phải cáo, sống và làm việc thiếu trung thực, (để giữ ghế chờ đến lúc về hưu hưởng đủ các loại chế độ?), và vì thế quốc gia nếu không ngày càng suy bại, bộ  máy vận hành nhà nước không ngày càng kém hiệu lực, mới là chuyện lạ.

Sự thật, chẳng phải không có những quan chức lãnh đạo cấp cao có thực tâm cải cách, chống tham nhũng, muốn làm trong sạch bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nhưng chính cái hệ thống với bản chất thiếu công khai dân chủ này trước hết đã vùi dập làm tê liệt mọi sáng kiến và quyền tự do phát biểu cá nhân, khiến cho một người dù thiện chí đến đâu rốt cuộc cũng phải chịu cảnh lực bất tòng tâm! Và trong tình huống triệt buộc bất lực một cách phổ biến như vậy, chỉ một số rất ít trong họ dám có quyết định “từ quan” để ít nhất cũng giữ mình trong sạch trong lương tâm thanh thản vì không tiếp tục mắc tội đồng lõa với một số biện pháp/ chính sách bất cập do tập thể quyết định.

Vậy rõ ràng vấn đề cần được giải quyết từ gốc, bằng cách phải sửa đổi căn bản hệ thống kinh tế-chính trịtheo hướng dân chủ hóa toàn bộ hoạt động xã hộimột cách thực chất, thông qua quá trình sửa đổi Hiến pháp và thực thi đúng Hiến pháp, vì trên thực tế, kể từ Hiến pháp Việt Nam đầu tiên (năm 1946) cho tới Hiến pháp bây giờ (năm 2013), hầu hết các quyền tự do dân chủ căn bản đều chỉ dừng lại ở mức độ lý thuyết: nói tự do ngôn luận mà không có tự do ngôn luận (nên mới có vụ trấn áp nhóm Nhân Văn Giai Phẩm năm 1956…); nói biểu tình mà không có quyền biểu tình (đến nay luật biểu tình vẫn chưa được thông qua, và ai tổ chức biểu tình cũng đều bị trấn áp, quy chụp do kẻ thù này khác xúi giục…); nói ứng cử/ bầu cử tự do nhưng thực tế chỉ do sự cơ cấu/ quy hoạch sẵn của một tổ chức độc quyền lãnh đạo (nên những người tự nộp đơn ứng cử hầu hết đều bị loại…) …

Cho đến hiện nay, tình trạng mất tự do dân chủ kiểu nêu trên vẫn chưa được cải thiện đáng kể, mọi ý đồ tốt đẹp của quốc gia vì thế đều chỉ nằm trên giấy, trong khi mọi thứ hiện tượng tiêu cực trong đó nổi bật quốc nạn tham nhũng tràn lan nêu ra từ mấy chục năm nay chẳng những không dừng lại mà còn tiếp tục gia tăng hoành hành, hay được mô tả khéo bằng cụm từ “diễn biến phức tạp”.

Trong bối cảnh gần như bế tắc như vậy, không ít người có thiện chí đã tỏ ra lúng túng, cố gắng lắm cũng chỉ thẳng thắn nêu lên được một vài ý kiến phản biện/ đóng góp trên các phương tiện truyền thông (lề phải, lề trái) nhưng thường chỉ được đáp lại bằng sự im lặng gần như tuyệt đối của các nhà đương cuộc! Một số người khác thất vọng vì lực bất tòng tâm, không đủ kiên nhẫn chờ đợi lâu thêm, họ đã lai rai buồn bã đoạn tuyệt với cái tổ chức chính trị độc quyền trì trệ ít chịu thay đổi mà họ kịp nhận ra chính sự độc quyền trì trệ đó mới là nguyên nhân đích thực của mọi nguyên nhân  tạo nên tình trạng hôn ám, vô đạo như từ trước đến nay. Họ dứt khoát như vậy, vừa để tránh mặc cảm đồng lõa, vừa để bắt chước người xưa bảo tồn danh tiết.

Từ rất lâu đã có loại lý lẽ cho rằng, trong điều kiện nước nhà “vô đạo”, tức chính trị hôn ám bại hoại, nếu thật sự là người tốt, chân chính thì không ai có thể tiến thân xa trên con đường chính trị. Trường hợp ai đó thản nhiên chịu nhận chức vụ cao một cách không ngay chính (vì thiếu đức thiếu tài, lại được cơ cấu/ đề bạt không theo nguyên tắc công bằng, dân chủ…) để được giàu sang như trong thực tế xã hội hiện tại “tiền và quyền đi đôi với nhau” mà chẳng làm được gì có ích cho dân thì họ chỉ được cái mã ngoài tốt đẹp vinh thân phì gia nhưng thực chất chỉ là một nỗi nhục nhã hết sức lớn lao, tương lai sẽ bị lịch sử phán xét không thương tiếc!

Là một người không từ bỏ lý tưởng xã hội, hẳn ai cũng muốn đóng góp phần mình vào sự nghiệp tiến bộ chung của đất nước. Nhưng ngặt nỗi, cuộc sống không đứng yên một chỗ, thực tế thời cuộc cũng ngày một đổi khác, lòng yêu nước, mục đích lý tưởng vì thế cũng cần được biến thông, thể hiện khác đi cho phù hợp với thời thế và hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã thay đổi. Nếu vẫn cứ một mực “ngu trung” theo con đường cũ, khi sự vật đã khác xưa, thì đó chắc chắn không phải là cách lựa chọn sáng suốt của một người trong sạch luôn coi lợi ích của nhân dân là mục đích tối thượng.

Về phía các nhà đương cuộc chịu trách nhiệm lèo lái quốc gia, ngày càng thấy dường như họ đã nhận ra tầm quan trọng và tính bức bách của nhu cầu cải cách thể chế. Về mặt phát biểu công khai, không ít các nhà lãnh đạo cấp cao đã đề cập vấn đề này từ lâu. Nhiều người trông chờ vào một bước đột phá có tính quyết định để khai thông mọi bế tắc; một vài cố gắng cũng đã được bàn thảo và thực hiện bước đầu, tuy vẫn còn vấp phải khá nhiều khó khăn trở ngại, bởi nhiều lý do rất phức tạp. Nhưng dù thế nào, nếu thật sự muốn lấy lại niềm tin trong nhân dân, để đất nước được ổn định phát triển lâu dài và thông suốt, tiêu chí của giá trị cải cách nhất định cũng phải được đánh giá dựa trên cái ngưỡng từ đó trông thấy rõ nỗ lực vượt lên mấy nút chặn nghiệt ngã bấy lâu nay, liên quan những nội dung/ vấn đề cốt lõi như quyền tự do ngôn luận-báo chí-xuất bản, quyền ứng cử, quyền biểu tình, quyền sở hữu ruộng đất (trên thực tế)…, chứ không thể chỉ dựa vào mấy câu chữ lưỡng nghĩa vốn đã được sửa đi sửa lại nhiều lần ghi trong các bản nghị quyết suốt mấy chục năm nay mà bản chất gần như không có gì đổi mới.

22.11.2016
Tác giả gởi cho viet-studies ngày 24-11-16.

http://www.viet-studies.net/kinhte/TranVanChanh_BangVoDao.htm

 

16.“Chúng ta đều phụ thuộc vào nhau”

Kim Yến thực hiện, chân dung hội hoạ Hoàng Tường Sài Gòn Tiếp Thị

“Chúng ta đều phụ thuộc vào nhau”

“Toàn cầu hóa hòa bình là mục đích của cạnh tranh lành mạnh, để cùng phát triển, chứ không phải bám vào việc đào bới thiên nhiên, hủy hoại đất mẹ. Sự sụp đổ hàng loạt các tập đoàn tài chính Mỹ đang bị siết lại bằng luật, nhưng điều cốt lõi là phải thay đổi là cách nghĩ, thay đổi trong tâm,. Chính vì thế phải có tôn giáo. Đạo Phật dạy tiền bạc, vật chất là ảo hết, tình thương yêu, giúp đỡ người khác mới là sự thật, đó mới là sức mạnh của con người.”

Tin giáo sư Trịnh Xuân Thuận, người Việt Nam đầu tiên được trao giải thưởng cao quý Kalinga của UNESCO về Phổ biến khoa học năm 2009 đã như ngọn gió lành làm nức lòng giới khoa học và tất cả độc giả đã từng yêu quý ông qua những tác phẩm viết về vũ trụ với cái nhìn tinh tế, giàu mỹ cảm, thấm đẫm tư tưởng triết lý của đạo học Phương Đông.

Dù vô cùng bận rộn, từ nước Mỹ xa xôi, ông đã dành hơn hai giờ đồng hồ để trả lời thật cặn kẽ những câu hỏi của báo Sài Gòn Tiếp Thị qua điện thoại. Giọng Hà Nội cổ trầm và ấm áp, lối nói khúc chiết, tình cảm, ông diễn đạt những điều cao siêu và bí ẩn của vũ trụ với một ngôn ngữ thật giản dị. Thỉnh thoảng ông dừng lại, hỏi han về Việt Nam như thể một người thân xa nhà đã lâu. Có cảm giác như ông đang hiện diện, đôi mắt trầm tư và hóm hỉnh, mở lòng chia sẻ với tất cả công chúng bình dị nhất về những gì ông đam mê và day dứt…

– Thưa giáo sư, ông có thể cho cụ thể hơn về Giải thưởng cao quý của UNESCO về Phổ biến khoa học năm 2009? Cảm xúc của riêng ông trong những ngày này?

– Tôi rất hãnh diện, vui mừng, vì đây không chỉ là vinh quang của riêng tôi mà là vinh quang của Việt Nam. Lần đầu tiên trên chính trường quốc tế, người Việt Nam đoạt giải thưởng lớn này, cùng với giáo sư Yash Pal người Ấn Độ. Viết sách, dạy học, khảo cứu là ba công việc mà tôi theo đuổi suốt đời, và coi như lẽ sống của đời mình. Chúng ta đang sống trong một thế giới bị vây bủa bởi kỹ thuật, ngạt thở vì bụi và khói, ít người hiểu rằng chúng ta còn có một vũ trụ bao la, đẹp đẽ và thật hài hòa. Với tư cách là một nhà khoa học, tiếp xúc hàng ngày với vũ trụ, tôi muốn chia sẻ những cảm xúc tuyệt vời về những điều kỳ diệu của vũ trụ. Giải thưởng về Phổ biến khoa học là phần thưởng ý nghĩa nhất cho những tác phẩm mà tôi đã viết để gửi tặng cho tất cả mọi người

– Hầu hết các tác phẩm của ông đều được dịch sang tiếng Việt, trong đó có Những con đường ánh sáng (tác phẩm giúp ông đoạt giải Moron của Viện hàn lâm Pháp năm 2007), ông đã suy nghĩ rất nhiều về ánh sáng và các khía cạnh tinh thần của ánh sáng? Ông đánh giá như thế nào về các bản dịch của dịch giả Phạm Xuân Thiều?

– Ánh sáng là người bạn tri kỉ của tôi, là phương tiện giúp tôi đối thoại với vũ trụ. Thuyết Lượng tử và thuyết Tương đối của Albert Einstein cũng nói về ánh sáng. Trong tất cả các tôn giáo, ánh sáng đẩy lùi sự không hiểu biết, sự mù quáng. Ánh sáng từ những ngọn nến thắp lên trên bàn thờ Phật đẩy lùi bóng tối, sự huyễn tưởng, tham muốn, đau khổ, để đi đến niết bàn. Ánh sáng từ những cánh cửa nhà thờ chính là ánh sáng của Chúa… Tôi ước ao thám hiểm không chỉ tầm vóc khoa học kỹ thuật, mà còn về thẩm mỹ, nghệ thuật, khía cạnh siêu hình, triết lý tôn giáo của ánh sáng. Ý định của tôi là biết được làm thế nào ánh sáng đã cho phép chúng ta trở thành những con người.

Về dịch giả Phạm Văn Thiều, anh ấy cũng là một nhà vật lý, nên hiểu chính xác các ngôn ngữ chuyên môn. Nhưng viết với tôi không chỉ nói về khoa học, đó còn là một tác phẩm văn chương với cách nói đẹp đẽ, khiến cho người đọc say mê. Anh Thiều đã thực sự cảm được chất triết lý, chất thơ và dịch rất đúng với tinh thần của tôi. Anh cũng đang giúp tôi dịch tác phẩm mới nhất Từ điển về những người yêu trời và ngôi sao do NXB Tri thức xuất bản. Mặc dù sống ở Mỹ, nhưng sách của tôi xuất bản ở Paris là chủ yếu, vì tôi viết bằng tiếng Pháp. Khi tác phẩm trở thành best- seller ở Paris, người ta mới dịch sang tiếng Anh và 20 thứ tiếng khác trên thế giới. Do vậy đối với tôi, chuyện dịch rất quan trọng, ngoài tinh thần khoa học, phải có tinh thần thơ, tinh thần triết lý.

– Tác phẩm Nguồn gốc thể hiện quan niệm của riêng ông khi trở lại với nguồn gốc của vũ trụ, của loài người, để giúp con người thay đổi cách nhìn về cuộc sống, về thế giới?

– Tôi mong muốn giải đáp phần nào những câu hỏi mãi hiện hữu trong tâm trí của nhân loại, đó là nguồn gốc hình thành vũ trụ. Vũ trụ đẻ ra các ngôi sao, từ đó hình thành trái đất, hình thành tế bào đầu tiên của sự sống, sinh ra con người. Tất cả chúng ta đều là con đẻ của các ngôi sao, liên hệ mật thiết với các ngôi sao, đó là ông tổ của loài người. Trái đất cũng được tạo thành bởi các nguyên tố sinh ra trong lòng các ngôi sao. Trong hệ mặt trời, chỉ có trái đất mới có các biển nước bao la để cho sự sống nảy nở. Hiểu như thế để thấy trái đất quý báu biết chừng nào, phải bảo vệ và che chở nó. Nếu không chỉ mấy thế hệ nữa thôi con cháu ta sẽ không còn chỗ để ở nữa, vì trái đất ngày càng nóng lên. Mỗi 100 năm trái đất nóng lên từ 1 đến 2 độ, băng ở Nam cực và Bắc cực đã tan chảy, khiến lụt bão càng ngày càng nhiều, hoành hành ngày càng dữ dội. Hiện giờ 25% cacbon dioxit (CO2) thải ra trong khí quyển trái đất là từ nước Mỹ, 25% là từ Trung Quốc. Thời của Bush, nước Mỹ không chịu ký hiệp định Kyoto năm 1997 về chống khí thải. Chính sách của ông Obama có tiến bộ hơn, tháng 12 này Mỹ và các nước sẽ họp lại ở Copenhagen, Đan Mach để tìm giải pháp giảm khí thải trên toàn thế giới. Với tư cách nhà khoa học, tôi chỉ nói lên lời cảnh báo, còn người định đoạt là các nhà chính trị. Tôi mong khi các cường quốc có trách nhiệm hơn, sẽ cải thiện được tình hình, vì trái đất là của chung mọi người.

Biết rằng tất cả chúng ta chỉ là những hạt bụi, chia sẻ cùng một lịch sử vũ trụ với loài linh dương và các đóa hồng, chúng ta được gắn kết với nhau qua không gian và thời gian, sẽ giúp chúng ta ý thức được sự phụ thuộc vào những người khác. Ý thức này sẽ sinh ra lòng trắc ẩn, giúp chúng ta nhìn thế giới khác đi và hành động công bằng hơn.

– Với riêng Việt Nam, ông có nghiên cứu nhiều về thảm họa tàn phá môi trường trong sự thái quá về phát triển kinh tế hiện nay hay không?

– Tôi cũng rất lo sợ. Tôi hiểu Việt Nam muốn phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho nhiều người, không còn cách nào khác là phải phát triển du lịch, vì Việt Nam có một thiên nhiên rất đẹp, có núi, có biển, có rừng. Nhưng phát triển du lịch phải nghĩ đến bảo vệ môi trường xung quanh, chứ kiểu phá rừng bừa bãi, giết chết thú vật và tất cả những sinh vật thiên nhiên như chim chóc,muông thú như hiện nay vô cùng nguy hiểm. Rừng của chúng ta có rất nhiều loài chim lạ mà các nhà khoa học quan tâm và đã đến khảo cứu, nhưng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Những nhà lãnh đạo đất nước phải quan tâm đến việc phát triển kinh tế trong sự tôn trọng môi trường

– Từng học tại Thụy Sĩ, lý do gì khiến ông chọn nước Mỹ là nơi dừng chân? Ấn tượng nhất với ông về cách dạy, cách học của hệ thống đại học đỉnh cao của Mỹ?

– Đậu tú tài năm 1966, tôi định đến Pháp để học vật lý, nhưng bài diễn văn của tướng De Gaulle ở Phnom Penh đòi Mỹ rút quân ngay lập tức khỏi Đông Nam Á đã làm thay đổi mọi kế hoạch của tôi. Việt Nam cắt đứt liên hệ ngoại giao với Pháp nên tôi không thể sang Paris học nữa. Sau một năm học ở Lausanne, Thụy Sĩ, tôi sang Mỹ học tại Caltech (viện Công nghệ Califonia ), “thánh địa” của các nhà vật lý thiên văn. Caltech có kính thiên văn lớn nhất thế giới vào lúc đó, có thể nhìn về quá khứ hàng tỉ năm, một nơi lý tưởng để nảy sinh thiên hướng cho một thanh niên 19 tuổi đang khát khao tìm hiểu mọi thứ như tôi. Xúc động lắm khi được những giáo sư dạy những công trình của chính họ.

Lớp không quá mười lăm người nên được tiếp xúc thật gần với từng giáo sư, cả những vị nổi danh nhất từng đoạt giải Nobel. Giáo dục quan trọng nhất là dạy cách nghĩ khác biệt trước một vấn đề, giúp cho người học đi xa hơn chính người thầy của mình trong quá khứ. Thế là tôi đổi thay. Tôi hoàn toàn ngạc nhiên khi thấy Richard Feynman, một trong những đỉnh cao của ngành Vật lý hiện đại, trả lời một cách kiên nhẫn từng câu hỏi của những cậu bé mười chín tuổi như tôi. Ông tranh luận và pha trò với chúng tôi. Ông luôn nhìn thiên nhiên bằng đôi mắt mới lạ, ngây thơ, diễn dịch lại theo cách của riêng ông. Ông không hề đi theo con đường mòn và luôn đặt lại câu hỏi cho những ý tưởng đã được công nhận. Ðó là chưa kể sự tự do lạ thường mà chúng tôi có được. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy sinh viên đi chân trần, ăn mặc lôi thôi đến dự giờ do một Nobel giảng dạy! Sau chấn động đó, tôi bắt đầu thích môi trường quá phong phú cho sự nảy nở tài năng của mỗi người, bất kể hình thức hay tầng lớp xã hội. Đặc ân tối cao là chúng tôi có thể gõ bất cứ cửa nào và bất cứ lúc nào, tất cả những đầu óc vĩ đại đó sẽ thong thả trả lời cho chúng tôi từng câu hỏi.

– Trong sự chọn lựa của ông đối với thiên văn học, ông đã phải trả giá cho những mất mát, khó khăn như thế nào của đời sống thường ngày? Theo ông, vì sao lớp trẻ ngày nay ít người dám theo đuổi những khát vọng lớn như thế hệ ông?

– Sống ở Mỹ từ năm 19 tuổi đến giờ đã hơn 42 năm, nhưng do học tiếng Pháp từ bé nên tiếng Pháp đối với tôi là tiếng của thơ ca, còn những gì thuộc về khoa học tôi viết bằng tiếng Anh. Những năm đầu sống trên đất Mỹ rất khó khăn, vì lúc ấy chiến tranh Việt Nam đang vào thời kỳ ác liệt nhất, nhiều người bạn Mỹ của tôi ở trong trường đã phải vào quân ngũ để sang Việt Nam. Không biết tiếng Anh, những ngày đầu tiên thầy giáo vật lý giảng bài tôi chẳng hiểu gì, chỉ nhận ra mấy cái phương trình. Mấy tháng sau mới tiếp thu được tiếng Anh nhanh hơn. Thực sự tôi phải trả giá rất nhiều cho việc học, khó nhất là làm thế nào để hòa mình vào môi trường khoa học trình độ cao. Lúc đầu bị cắt hết liên lạc gia đình, đâu có tiền mà về thăm nhà. Lúc đó chưa có e-mail hoặc internet. Xa gia đình, xa đất nước mình, thiếu chỗ nương tựa tinh thần, văn hóa lại khác hẳn nên rất gian nan. Phải có ý chí, đam mê nhiều lắm, nhất là sự ham thích tìm hiểu, nghĩ ngợi, hân hoan với mỗi phát hiện mới của riêng mình, chứ nếu chỉ nghĩ đến tiền và làm giàu thì không thể làm khoa học được.

Thế hệ chúng tôi già rồi, nên rất mong có những thế hệ kế tiếp, nhưng hình như các bạn trẻ ngày nay theo đuổi những nghề nghiệp giúp họ kiếm tiền nhanh như kinh doanh, bác sĩ, luật sư… hơn là về khoa học. Trách nhiệm của những nhà giáo dục là phải truyền đạt tới lớp trẻ tình yêu khoa học. Chính vì vậy mà tôi đẻ ra môn Thiên văn học dành cho các nhà thơ, để dành cho những sinh viên học các môn học khác như kinh tế học, triết học, văn học…Tôi rất thú vị khi thấy các em rất say mê môn học này, và thích thú nhìn lên bầu trời, quan sát các ngôi sao.

– Sau ngày miền Nam được giải phóng, cha ông (Trịnh Xuân Ngạn- KY) phải đi học tập cải tạo vì là chủ tịch Tối cao Pháp viện chế độ Sài Gòn, nghe nói ông đã viết thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng để xin cho cha được về?

– Khi ấy, tôi tưởng không thể gặp lại bố được nữa. Lúc ấy Mỹ không có bang giao với Việt Nam. Không biết làm gì để cứu bố, tôi sang Pháp gặp một đồng nghiệp về vật lý thiên văn, rất may ông là bạn thân của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ông ấy đã viết một bức thư gửi Thủ tướng xin tự do cho cha tôi, nhưng tôi cũng không dám hy vọng gì nhiều. Không ngờ Thủ tướng đã tác động ngay cho bố tôi được sang Pháp sinh sống cùng gia đình.

– Đối diện với vũ trụ bao la, có bao giờ ông rơi vào cảm giác quá bé nhỏ, tuyệt vọng, cô đơn…?

– Tôi luôn cảm thấy hài hòa một cách tự nhiên với vũ trụ, nên không bao giờ cảm thấy cô đơn. Vả lại tôi luôn có những người thân yêu ở bên cạnh nâng đỡ, động viên. Cha tôi giờ đã mất, nhưng ông là một tấm gương lớn cho tôi về tinh thần học hỏi không ngừng. Ông luôn khuyến khích tôi trên con đường khoa học, dạy tôi trước tiên phải trở thành người lương thiện, biết thương người khác. Tôi may mắn có người vợ hết lòng, cô ấy cũng dạy học như tôi, nhưng biết lo lắng chuyện nhà chuyện cửa để tôi yên tâm nghiên cứu. Trong gia đình lớn của tôi, sự gắn bó từ đời này sang đời khác rất được coi trọng, gìn giữ. Dòng họ nhà tôi nhiều người đỗ đạt tiến sĩ, làm quan lớn trong triều. Học hỏi, khảo cứu và giúp người là truyền thống quý báu nhất của dòng họ. Tôi viết sách, dạy học, khảo cứu cũng là để tiếp nối truyền thống đó.

Trong chuyến trở về Việt Nam cùng phái đoàn của Tổng thống Pháp Mitterrand năm 1993, đến Văn Miếu ở Hà Nội, tôi rất hãnh diện khi thấy ông tổ của mình cũng có tên trong đó. Lúc đó, mức sống ở miền Bắc còn quá thấp so với miền Nam, nhiều chỗ không có điện nước. Năm 2004, trở lại ngôi làng thời ấu thơ bên kia sông Đuống, thăm lại mồ mả cha ông, tôi vô cùng xúc động khi thấy tất cả sức lực của đất nước được dồn cho xây dựng, mức sống của người dân quê tôi đã được nâng lên đáng kể…Tất cả những điều đó níu giữ mình, giúp mình cảm thấy không cô đơn, thấy có trách nhiệm hơn với cuộc đời và xã hội..

– Là nhà khoa học, có bao giờ ông tin vào trực giác, sự mách bảo của tâm linh?

– Thường khi nghĩ nhiều về một vấn đề nào đó của vũ trụ, trực giác luôn đến với tôi đầu tiên, sau đó mới là những luận cứ khoa học. Cũng có khi trực giác và luận cứ khoa học đến cùng một lúc. Điều kỳ diệu đâu phải tự nhiên mà có, mình phải đeo đuổi nó nhiều lắm, tìm hiểu nhiều lắm qua kính thiên văn và suy nghĩ, rồi mới phát hiện ra. Lúc ấy thấy hân hoan lắm.

Là người rất quan tâm đến đời sống xã hội, ông nghĩ gì về sự đổ vỡ trong đời sống tinh thần của con người hiện đại, khi lao theo những ham muốn bất tận về đời sống vật chất đến mức không dừng lại được?

– Đầu tháng 10/2009, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã quyết định trao Giải thưởng Kalinga 2009 cho giáo sư Trịnh Xuân Thuận, nhà vật lý thiên văn người Mỹ gốc Việt hàng đầu thế giới. Đây là giải thưởng quốc tế nhằm tôn vinh nỗ lực của những nhà nghiên cứu có nhiều thành công trong việc phổ biến kiến thức khoa học đến công chúng, cải thiện phúc lợi công cộng và làm giàu có thêm di sản văn hóa của các dân tộc và những giải pháp cho các vấn đề của nhân loại. Lễ trao giải sẽ được tổ chức vào ngày 5/11 trong thời gian diễn ra Diễn đàn Khoa học Thế giới, tại thủ đô Budapest (Hungary). – Giáo sư Trịnh Xuân Thuận không chỉ nổi tiếng là nhà vật lý thiên văn có nhiều công trình nghiên cứu về vũ trụ gây tiếng vang lớn. Ông còn là nhà văn, nhà thơ, một triết gia, một Phật tử và nhà hoạt động cho môi trường và hòa bình. Khoa học đối với ông không chỉ dành riêng cho những nhà thông thái, mà luôn nhắm tới công chúng bình dị. Những tác phẩm best-seller của ông như Những con đường ánh sáng, Giai điệu bí ẩn, Hỗn độn và hài hòa, Cái vô hạn trong lòng bàn tay, Lượng tử và hoa sen, Nguồn gốc…đã được dịch ra 20 thứ tiếng khác nhau trên thế giới

– Khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua là bằng chứng rõ nhất về chuyện con người quá lao theo vật chất, mà quên đi những giá trị tinh thần. Con người cần phải nghĩ nhiều hơn về hạnh phúc. Làm giàu là cần thiết, nhưng đến một mức độ nào thôi cũng phải biết hướng tới những giá trị truyền thống của đời sống nhân văn, biểu hiện qua tôn giáo. Toàn thế giới đang chạy theo chỉ số GDP, nhưng ở Bhutan, đất nước theo đạo Phật, chỉ số hạnh phúc lại cao nhất thế giới. Họ có nền an ninh sung sướng mặc dù nghèo hơn rất nhiều nước khác. Giàu đến một mức nào đó thôi cũng phải nghĩ cách giúp đỡ người khác, như Bill Gates, người đã tạo ra hãng Microsoft chẳng hạn. Chứ sống một mình sung sướng trên một biển toàn người đau khổ thì đâu có hạnh phúc gì. Chúng ta phụ thuộc vào nhau, điều cụ thể nhất mà mỗi gia đình có thể làm được là các bậc cha mẹ hãy giáo dục cho con cái mình đừng nên chạy theo vật chất, biết nghĩ nhiều hơn cho người khác thì cuộc sống của mình sẽ ý nghĩa hơn

– Để tồn tại, cạnh tranh và sống sót trong một thế giới đầy bất an như hiện nay, theo ông, con người phải thay đổi điều gì trong tư duy và lối sống của chính mình?

-Tôi sống ở đất Mỹ, nơi lúc nào cũng nói đến chữ cạnh tranh. Nhưng chữ cạnh tranh mà ông Obama dùng khác hẳn chữ cạnh tranh của ông Bush. Cạnh tranh với Obama là để chung sống hòa bình, chứ không phải gây chiến như Bush. Có lẽ nhờ thế ông đã đoạt giải Nobel Hòa bình 2009 dù chưa làm được gì, nhưng đã thay đổi hoàn toàn trong cách nghĩ, để mong giúp đỡ con người. Toàn cầu hóa hòa bình là mục đích của cạnh tranh lành mạnh, để cùng phát triển, chứ không phải bám vào việc đào bới thiên nhiên, hủy hoại đất mẹ. Sự sụp đổ hàng loạt các tập đoàn tài chính Mỹ đang bị siết lại bằng luật, nhưng điều cốt lõi là phải thay đổi là cách nghĩ, thay đổi trong tâm,. Chính vì thế phải có tôn giáo. Đạo Phật dạy tiền bạc, vật chất là ảo hết, tình thương yêu, giúp đỡ người khác mới là sự thật, đó mới là sức mạnh của con người.

– Mối tương đồng giữa vật lý hiện đại với đạo học phương Đông, nhất là Phật giáo đã mở cho ông những cánh cửa như thế nào để thấy được bộ mặt thật của vật chất?

– Tôi chiêm nghiệm thế giới theo triết lý Phật giáo nhưng với cái nhìn của nhà khoa học vật lý hiện đại và đạo học phương Đông là hai cách nhìn về cùng một sự vật, đó là vũ trụ. Hai lối nghĩ tả về một cái thì phải gặp gỡ nhau thôi. Nếu như tôn giáo giúp mình nhìn ra sự thật về vũ trụ để sống, để nhìn đời hoàn hảo hơn thì vật lý hiện đại giúp mình dùng thiên nhiên để chế tạo ra những công trình kỹ thuật, khoa học. Phật giáo rất vững vàng để đương đầu với khoa học. Nhà khoa học làm những cuộc quan sát, thí nghiệm. Trong Phật giáo, con người tự thí nghiệm lấy chính mình. Họ tự tìm lấy con đường của họ. Trong đạo Phật, người ta tìm thấy khái niệm vô thường: tất cả đều chuyển động, tất cả đều thay đổi, tất cả đều tiến hóa, thì đó cũng là thông điệp chính của khoa học. Các ngôi sao đều có lịch sử riêng của chúng: chúng sinh ra, sống và chết. Vũ trụ có một sự khai nguyên, một hiện tại và một tương lai. Tất cả đều thay đổi, tất cả đều chuyển động.

Tôi cũng đang tìm hiểu thêm về Lão tử để soi rọi nó với đạo Phật, phát hiện thêm những chiều sâu mà mình chưa biết đến. Đó là cuộc tìm kiếm vô cùng. Cho đến nay, con người có thể nhìn thấy chỉ chiếm 4% trong tổng số vật chất trong vũ trụ. Như vậy, rõ ràng, còn quá nhiều thứ, đến 96%, để chúng ta học hỏi và khám phá. Tôi tin rằng ý thức con người đủ sức mạnh để khám phá phần còn lại mênh mông và huyền bí đó

– Theo ông, sự gặp gỡ giữa nhận thức luận phương Tây và triết lý phương Đông có giúp con người thoát khỏi những khủng hoảng cá nhân?

– Tôi nghĩ triết lý phương Tây để ý đến cá nhân nhiều hơn, trong khi phương Đông lại có lối nhìn toàn vẹn hơn. Khi những luồng tư tưởng khác biệt gặp nhau, tác động lên nhau, có thể giúp con người vượt thoát khỏi sự khủng hoảng trong đời sống tinh thần, tìm đến một chủ nghĩa nhân văn phổ quát, để vừa thúc đẩy tính sáng tạo trong mỗi cá nhân, vừa giúp mỗi cá nhân hài hòa hơn với xã hội, gìn giữ mối quan hệ gia đình. Hiện có rất nhiều người Âu châu để ý đến đạo Phật vì tinh thần gần gũi, rộng rãi của nó.

– Ông có thể kể một chút về tình bạn với Ricard Matthieu, người đã ảnh hưởng rất lớn đến ông trên con đường trở thành một Phật tử tự do, và viết chung tác phẩm Cái vô tận trong lòng bàn tay?

– Matthieu Ricard vốn là một tiến sĩ sinh học người Pháp đã bỏ hết sự nghiệp đi tu, vì cho rằng việc khảo cứu không làm cho đời mình hạnh phúc. Ông trở thành một thiền sư Phật giáo Tây Tạng, và là người rất thân cận với Đức Đạt Lai Lạt Ma. Khi Đạt Lai Lạt Ma sang Pháp luôn có ông bên cạnh. Ông nổi tiếng ở châu Âu về truyền bá đạo Phật, cách tu tâm, thiền. Ông sống rất đúng theo triết lý của đạo Phật, luôn đỡ người khác, bao nhiều tiến viết sách ông dành để xây làng cho trẻ mồ côi ở Tây Tạng, và làm từ thiện. Mùa hè năm 1997, tôi và nhà sư Matthieu tình cờ gặp nhau tại một hội thảo ở nước Andorra, nhỏ nhất thế giới. Trong chuyến du hành lên núi Pyrenee ở nước đó, chúng tôi đã trở thành bạn thân, thảo luận với nhau về những vấn đề cốt tử của khoa học và tôn giáo. Tôi đã lớn lên hơn với triết lý cho rằng con người không hiện hữu trong cô đơn và cô lập. Tất cả đều là một thành phần của tổng thể.

– Ông nghĩ gì về vai trò của người trí thức trong sự phát triển của đất nước? Theo ông làm thế nào để có được những chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực khoa học, thiên văn, nhất là khoa học xã hội nhân văn? Nỗi đau nào ám ảnh ông khi về thăm lại quê hương?

– Với riêng tôi, cách giúp đỡ tốt nhất là mang những tác phẩm của mình đến với công chúng Việt Nam, để gầy dựng tình yêu khoa học cho những thế hệ sinh viên trẻ, và tham gia giảng dạy cho những sinh viên ưu tú của đại học Việt Nam. Còn chuyện khảo cứu thì quá thiếu phương tiện. Tôi mong khi đất nước phát triển, Việt Nam sẽ thu hút được chất xám của những chuyên gia người Việt đã được đào tạo tại Mỹ và châu Âu về giảng dạy như Trung Quốc bây giờ. Hệ thống đại học đỉnh cao của Trung Quốc hiện nay chất lượng đào tạo ngang hàng với Mỹ chính vì đã biết đầu tư để thu hút chất xám về nước, nhờ vậy họ tiến rất nhanh. Muốn vậy, phải có một chính sách đúng từ chính phủ. Chỉ lo đầu tư cho đường sá, cầu cống, để tham nhũng hoành hành như hiện nay rất nguy hiểm. Các nhà lãnh đạo phải hiểu đầu tư cho giáo dục, khảo cứu là đầu tư cho tương lai của đất nước. Điều tôi mong muốn nhất của tôi là một ngày kia nước mình sẽ có đài thiên văn, có người làm thiên văn. Khoa học phát triển mới có thể phát triển căn cơ về kinh tế

– Cho đến bây giờ, ông đã thực sự tìm thấy sự bình yên?

– Cũng nhờ Trời Phật phù hộ mà ngay từ nhỏ tôi đã biết mình muốn gì, đó là theo đuổi đam mê làm khoa học, chứ không bị lang bang sang các ham muốn khác. Biết làm điều mình thích nên không bị khổ. Giây phút hạnh phúc nhất với tôi là khi khám phá ra một điều mới lạ. Đạo Phật lúc nào cũng ở trong tôi, giúp tôi sống thanh thản hơn.

– Phương châm sống của riêng ông?

– Làm gì cũng ráng làm hết sức, sinh sống không làm hại người khác, giúp được ai thì giúp hết lòng.


Ý kiến về Trịnh Xuân Thuận

– Tiến sĩ Nguyễn Xuân Xanh:

“Chúng tôi xin nhiệt liệt chúc mừng anh Thuận. Tin này làm phấn chấn cộng đồng Việt Nam nói chung, và giới khoa học Việt Nam trong và ngoài nước nói riêng. Khoa học tại VN chắc chắn sẽ nhận được một “cú hích” tốt cho sự phát triển. Thanh niên và cộng đồng sẽ hướng nhiều hơn nữa về khoa học, điều cần thiết để phát triển trí tuệ. Câu nói của Voltaire về Galilei: “”Triết lý đích thực đã không bắt đầu khai sáng con người cho đến khi cuối thế kỷ mười sáu. Galilei là người đầu tiên đã làm cho vật lý học nói lên được ngôn ngữ của sự thật và lý tính”, cho thấy vai trò lớn lao của khoa học trong đóng góp phát triển trí tuệ, lý tính của con người, đặc biệt trong một nước có những đặc thù khó khăn như VN. Cuốn Kỷ yếu thiên văn và Darwin năm nay ra đời đúng lúc anh đón nhận tin vui. Xin cám ơn những đóng góp rất có ý nghĩa của anh Thuận.

Trần Tiễn Cao Đăng:

“Những cuốn sách của Trịnh Xuân Thuận cho thấy một bộ phận tinh hoa các nhà khoa học trên thế giới không còn hài lòng với việc làm nhà khoa học “thuần tuý”. Họ vươn lên một thứ “bản thể luận về khoa học và tri thức”, mà trong đó mọi ngành khoa học, cả tự nhiên lẫn nhân văn, và cả nghệ thuật, đều là những thành tố không thể tách rời của một cái toàn thể bất phân. Đó cũng lại là hậu hiện đại: Không còn sự chia cắt đầy võ đoán giữa một đằng là khoa học, một đằng là nghệ thuật, một đằng là tôn giáo. Không thấy sự phân chia giữa những thứ đó, mà cảm nhận nó như một toàn thể. Văn chương cũng có thể vậy, cần phải vậy.

Dịch giả, nhà vật lý Phạm Văn Thiều:

“ Ấn tượng mạnh nhất của tôi là trước khi khép lại Nguồn gốc, tác giả đã dụng ý đặt bức ảnh lớn về một nhà sư ngồi thiền trước một vườn cát mênh mông Daisen-in, xây dựng đầu thế kỷ XVI, trong quần thể các đền Daitoku-ji ở Kyoto, Nhật Bản. Khu vườn dành cho nhà sư thiền định nhìn vào một khoảng trống ngang dọc những chuyển động sâu xa, mà chỉ những gợn sóng trên bề mặt của cát gợi ra. Cát trắng được cào hằng ngày và được vun thành 3 đống, trong đó một đống không bao giờ nhìn thấy được, bất kể vị trí của người ngồi chiêm nghiệm.

Cuộc sống hiện đại với rất nhiều sức ép của nó đã khiến đa số chúng ta mải mê theo đuổi những tham vọng trần tục, chẳng còn thì giờ đâu để suy ngẫm về chính bản thân mình cũng như nguồn gốc của mình. Bức ảnh đó dường như nhắc nhở chúng ta nên nhớ rằng con người là báu vật mà tự nhiên đã biết bao khó nhọc mới tạo được ra nhưng cũng rất nhỏ nhoi trong khoảng mênh mông vô tận của vũ trụ. Hãy dành thời gian để suy ngẫm, để sống nhân ái và bao dung với đồng loại để xứng đáng với ân huệ to lớn mà tự nhiên đã ban tặng chúng ta”.

 

17. Về các đền thờ Hai Bà Trưng tại đất Trung Quốc ngày nay

+
Biên giới quốc gia ngày nay giữa Trung Quốc và Việt Nam không phải là cương giới thời cổ. Vì vậy, rất có thể lãnh thổ nước ta thời Trưng Vương đã lan đến gần như toàn bộ khu vực nay là hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và một phần nhỏ của tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Tuy nhiên, lãnh thổ này là dựa trên cơ sở kế thừa lãnh thổ nước Nam Việt cũ (tương ứng với bộ Giao Chỉ/châu Giao thời Hán thuộc), chứ thực sự là nó rộng lớn hơn rất nhiều so với thời Văn Lang. Hơn nữa, trong sách “Đại Việt sử ký tiền biên”, Ngô Thì Sĩ có lời bình: “Cho nên tiếc Ngũ Lĩnh, là tiếc cái sau khi bà Trưng mất”. Ngũ Lĩnh là tên hệ thống các dãy núi mà nay chạy qua các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc. Các sử gia thời phong kiến quan niệm: dãy Ngũ Lĩnh chính là ranh giới phía Bắc của nước Việt ta thời nhà Triệu và thời Trưng Vương, ngăn cách với lãnh thổ nhà Hán (Trung Quốc).


Bản đồ phỏng ước lãnh thổ nước Âu Lạc của An Dương Vương Thục Phán vào khoảng thế kỷ 3 TCN


Bản đồ nước Nam Việt (khoảng thế kỷ 2-3 TCN)


Bản đồ Lĩnh Nam thời Trưng Vương (40-43 sau Công nguyên)

Thời nhà Triệu nước Nam Việt, phần lớn lãnh thổ Quảng Tây hiện nay là quận Quế Lâm, khu vực tỉnh Quảng Đông là quận Nam Hải, phía tây nam Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam là quận Giao Chỉ. Cũng thời bấy giờ, khu vực Hồ Nam ngày nay chính là nước Trường Sa, chư hầu phiên thuộc nhà Tây Hán.

TRƯỚC thời nhà Triệu thì Quảng Đông, Quảng Tây là đất đai của người Bách Việt (tuy còn hoang sơ, dân cư thưa thớt so với miền Bắc Việt Nam cùng thời), còn Hồ Nam là một phần của nước Sở.

Sau đây là danh sách đền thờ Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh tại lãnh thổ miền nam Trung Quốc bây giờ:

1. Tại Quảng Đông:

* Thờ Hai Bà Trưng: Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Người dân đã dựng đền thờ Trưng Nữ Vương ở xã Hát Giang, huyện Phúc Lộc (nay ở Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội) và ở đất cũ thành Phiên Ngung cũng có.”

Phiên Ngung là kinh đô nước Nam Việt xưa, nay là thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

* Thờ các tướng lĩnh: Hiện nay, tại quận Khúc Giang thuộc địa cấp thị Thiều Quan, tỉnh Quảng Đông còn đền thờ nữ tướng của Hai Bà Trưng là Đàm Ngọc Nga, tước Nguyệt Điện Tế Thế công chúa, giữ chức Tiền Đạo tả tướng quân, phó thống lĩnh đạo binh Nam Hải. Tại đây còn nhiều di tích trong trận chiến long trời lở đất của bà với quân Mã Viện.

Cũng tại Khúc Giang, còn có đền thờ nữ tướng Trần Thị Phương Châu, tước Nam Hải công chúa. Bà tuẫn tiết tại đây vào đầu cuộc khởi nghĩa năm 39. Sử Việt có ghi vào năm 1288, vua Trần Nhân Tông đã sai Đại thần Đoàn Nhữ Hải qua Khúc Giang trùng tu đền thờ bà.

Tại Quảng Đông còn nhiều đền thờ nữ tướng Nguyễn Thánh Thiên, tước Thánh Thiên công chúa, giữ chức Bình Ngô đại tướng quân, thống lĩnh binh mã trấn thủ vùng Nam Hải. Bà hi sinh tại vùng này vào năm 42.

Tại dọc bờ biển các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến và đảo Hải Nam có nhiều đền thờ nữ tướng Trần Quốc (Nàng Quốc), tước Gia Hưng công chúa, giữ chức Trung Dũng đại tướng quân, Đô đốc, trưởng quản thuỷ quân trấn bắc Nam Hải. Bà có trận thuỷ chiến lẫy lừng ở quận Uất Lâm (nay thuộc Quảng Tây). Dân các vùng này đã tôn bà là Giao Long Tiên Nữ giáng trần vì bà rất hiển linh.

Nguồn: http://diendannguoivietquocgia.com/N…icle%20168.htm

2. Tại Quảng Tây:

* Thờ Hai Bà Trưng: Nhà báo Phạm Hồng cho biết, ông đã thấy những ngôi đền thờ “Mụ Trưng”, “Mụ Trắc” trên đất Quảng Tây.

Nguồn: http://kienthuc.net.vn/phong-thuy/tr…ba-120434.html

* Thờ các tướng lĩnh: Tại Quảng Tây cũng còn nhiều đền thờ nữ tướng Nguyễn Thánh Thiên, tước Thánh Thiên công chúa, giữ chức Bình Ngô đại tướng quân, thống lĩnh binh mã trấn thủ vùng Nam Hải. Bà hi sinh tại vùng này vào năm 42.

Nguồn: http://diendannguoivietquocgia.com/N…icle%20168.htm

3. Tại Hồ Nam:

* Thờ Hai Bà Trưng:Trên đất Trung Quốc mà lại có đền thờ Bà Trưng? Lạ, nhưng có thật. Vì nguồn thông tin này do hai nho sĩ Việt Nam từng đi sứ sang Trung Quốc, từng nhìn thấy ngôi đền và ghi chép lại trong thơ văn của họ. Đó là Nguyễn Thực và Ngô Thì Nhậm.

Nguyễn Thực (1554 – 1637) người làng Vân Điềm (tên nôm là làng Đóm), nay thuộc xã Vân Hà, huyện Đông Anh. Ông đỗ tiến sĩ nhị giáp khoa thi đình đầu tiên của nhà Lê Trung hưng mở tại Thăng Long (năm 1595).

Nguyễn Thực là vị quan thanh liêm, chính trực, được người đương thời trọng vọng. Trong thời gian được cử đi sứ sang Trung Quốc, ông có làm một số thơ, nhưng sau đó bị thất lạc.

Tới thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn sưu tầm được 10 bài, trong đó có 4 bài làm trong thời gian đi sứ. Trong 4 bài này, có một bài cho biết là ở Trung Quốc, phía nam dãy núi Ngũ Lĩnh có đền thờ Trưng Vương. Đó là bài “Nam hoàn chí Ngũ Lĩnh” (về Nam đến rặng núi Ngũ Lĩnh):

Ngũ Lĩnh điêu nghiêu trấn Việt thùy
Hứa đa cảnh trí chiếm thanh kỳ
Uất thông đông hậu thùy thiên cán
Nùng diễm xuân tiền mai nhất chi
Đồng trụ Trưng vương lưu cựu tích
Thạch nhai Trưng tướng phục tùng từ
Phong cương tự cổ phân trung ngoại
Thậm tiễn thiên công xảo thiết thi

Dịch:

Núi Ngũ Lĩnh chất ngất trấn ở vùng biên cương đất Việt
Biết bao cảnh trí tươi tắn kỳ lạ
Sau mùa đông ngàn cây tùng xanh um
Trước mùa xuân một nhành mai diễm lệ
Cột đồng còn lưu dấu cũ Trưng Vương
Đường đá nghiêng bên ngôi đền Trưng tướng
Chốn biên cương từ xưa phân rõ trong, ngoài
Rất phục thợ trời sao khéo đặt bày

Tác giả viết bài này khi về tới dãy núi Ngũ Lĩnh ở Trung Quốc, tức dãy núi làm ranh giới hai nước Sở, Việt thời cổ. Sở là khu vực tỉnh Hồ Nam (phía Nam hồ Động Đình) và Việt là khu vực tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay. Về tứ thì đây là bài thơ đẹp một cách hồn hậu. Có thể, khi đó là cuối mùa đông nhưng gió xuân đã thổi nên tùng bách vẫn xanh um, mà một bông hoa mai trắng đã nở chào mùa xuân mới đang tới.

Song, chúng tôi lại lưu ý tới một chi tiết về lịch sử ở câu thứ 5 – Cột đồng lưu dấu cũ Trưng Vương. Trưng Vương ở đây chính là vua bà Trưng Trắc của chúng ta, người đã giành lại độc lập cho đất nước và làm vua trong 3 năm, từ năm 40 đến 43.

Cột đồng là muốn nhắc lại việc Mã Viện cướp các trống đồng đất Việt, đúc thành cột dựng ở một số nơi để ghi chiến công (cũng như đem về Trường An đúc ngựa đồng đặt ở cung vua).

Còn dấu cũ Trưng Vương, hẳn là dùng để chỉ ngôi đền đã được dựng lên để thờ vị nữ anh hùng của dân Việt. Nói rằng đó là ngôi đền thờ bà Trưng vì còn một chứng cứ nữa. Đó là điều mà hai thế kỷ sau Ngô Thì Nhậm có dịp nhắc lại khi ông đi sứ.

Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) quê ở Tả Thanh Oai (tên nôm là làng Tó) nay thuộc huyện Thanh Trì. Năm 1793, ông có đi sứ nhà Thanh, có sáng tác tập Hoàng Hoa đồ phả – một tập thơ có cả những bức vẽ. Trong tập đó có một bài nhan đề Phân Mao lĩnh (Núi Phân Mao):

Nhất đái thanh sơn Sở, Việt giao
Hoàng Mao dịch lộ nhậnPhân Mao
Thiên thư bất tận Hành Sơn Lĩnh
Địa khí hoàng phù Nhạn Trạch Mao
Trưng Trắc kiếm mang khai động phủ
Uy đà quế đố lạc sơn sào
Phong lai giải uấn tay nam lợi
Vị ứng Hùng Bi vạn nhận cao

Nghĩa là:

Một dải núi xanh ở nơi giáp giới với Sở và Việt
Trên đường đến trạm Hoàng Mai nhận ra đó là núi Phân Mao
(Ranh giới của Trung Hoa là do) Sách trời định ra không quá núi Hành Sơn (1)
Khí đất làm trôi ngược lông chim nhạn ở Nhạn Trạch (về phía nam)
Lưỡi kiếm của bà Trưng mở ra động phủ
Sâu quế của Triệu Đà còn đầy trong hang núi
Gió từ tây nam làm nguôi cơn nồng
Coi thường núi Hùng Bi dù cao tới muôn sải (2)

Ngô Thì Nhậm có lời chú thích rằng: “Núi Phân Mao ở địa giới Hành Sơn, tỉnh Hồ Nam, có cỏ mao rẽ hai ngả Nam Bắc, trên đường đi có biển đề Phân Mao lĩnh”.

Như vậy thì núi này là chỗ ranh giới hai nước Sở, Việt. Như đã nêu ở trên, Sở là khu vực tỉnh Hồ Nam và Việt là khu vực hai tỉnh Lưỡng Quảng ngày nay. Và vậy là, theo bài thơ này, tại Hồ Nam có đền thờ bà Trưng Trắc.

Không rõ về sự kiện này thì Ngô Thì Nhậm rút từ tư liệu nào? Chính sử Việt Nam và Trung Quốc không có ghi chép gì về sự kiện đó. Có thể đó chỉ là truyền thuyết? Nhưng cơ sở để hình thành truyền thuyết này thì có thể giải thích được.

Các sách chính sử có ghi là sau khi Mã Viện hoàn thành công việc xâm lăng đã bắt trên 300 cừ suý (có thể hiểu là “tướng lĩnh cừ khôi”) người Việt đưa về Trung Quốc, an trí tại Linh Lăng. Linh Lăng chính là phần đất phía Nam tỉnh Hồ Nam.

Số ba trăm cừ suý đó, tất phải là các thủ lĩnh nghĩa quân, tướng lĩnh của Hai Bà và các lạc hầu, lạc tướng, đã kiên quyết chống lại quân Mã Viện. Những người dân Việt yêu nước này, tuy bị đầy ải xa quê hương nhưng vẫn hướng về đất Tổ, lập “miếu Bà Trắc” để tưởng nhớ thủ lĩnh của mình, thể hiện ý chí bất khuất của người Việt.

Những câu chuyện về cuộc khởi nghĩa kháng chiến ngày đó tất cũng được lưu truyền trong cộng đồng đó, nhưng rồi trải qua bao đời, chuyện bị “khúc xạ”, trở thành truyền thuyết Hai Bà Trưng đánh Mã Viện trên đất Hồ Nam.

Miếu Bà Trắc ở bên hồ Động Đình đúng là biểu tượng hiên ngang bất khuất của người Việt thời Hai Bà Trưng, dù bị tách khỏi quê hương. Còn về cột đồng được nhắc tới trong thơ Nguyễn Thực thì có thể hiểu là Mã Viện sau khi an trí các cừ suý Việt ở Linh Lăng thuộc Hồ Nam, Ngũ Lĩnh thì cho dựng một (hoặc nhiều) cột đồng để tự biểu dương chiến công. Nhưng các cừ suý Việt đã xây ngay đền thờ Hai Bà ở chỗ có cột đồng nọ để khẳng định bản lĩnh của cộng đồng mình.

Dù sao, “Miếu thờ Trưng Vương” ở đất Hồ Nam là có thật.

Báo hanoimoi.com.vn
– – – – – – – –
(1) Hành Sơn: tên dãy núi trùng điệp trên địa bàn huyện Hành Dương.
(2) Hùng Bi là một dãy núi ở huyện Kỳ Dương, huyện cực Nam của tỉnh Hồ Nam.

Nguồn: http://www.nguyenthaihocfoundation.o…ngnuvuong4.php

* Thờ các tướng lĩnh: Nữ tướng Phật Nguyệt, được Trưng Vương phong làm Phật Nguyệt công chúa, giữ chức Thao Giang Thượng tả tướng thuỷ quân, Chinh Bắc đại tướng quân, tổng trấn khu hồ Động Đình – Trường Sa. Bà có trận đánh kinh hồn chiến thắng Mã Viện, Lưu Long và Đoàn Chí ở hồ Động Đình (nay ở phía Đông Bắc tỉnh Hồ Nam). Hiện di tích về bà còn rất nhiều: tại chùa Kiến Quốc thuộc thành phố Trường Sa (thủ phủ tỉnh Hồ Nam), tại ngôi chùa trên núi Thiên Đài trong hệ thống dãy núi Ngũ Lĩnh.

Tại cửa Thẩm Giang chảy vào hồ Động Đình còn có miếu thờ nữ tướng Trần Thiếu Lan. Cả ngàn năm qua, mỗi lần sứ thần của Việt Nam đi ngang qua đều vào tế lễ bà. Hiện nay cũng còn một ngôi mộ mang tên bà.

Nguồn: http://diendannguoivietquocgia.com/N…icle%20168.htm

https://nvphamvietdao5.blogspot.com/2016/08/ve-cac-en-tho-hai-ba-trung-tai-at-trung.html

18.Về Thăng Long và lên Yên Tử

Nguyên Ngọc

...” thử nghĩ tại sao nền giáo dục của chúng ta cứ như “bỗng dưng” lại ngổn ngang đến thế? Chỉ vì nó mãi loay hoay chưa xác định được nhiệm vụ bồi đắp nhận thức và tinh thần của một nền giáo dục cho sự phục hưng dân tộc. Và hơn thế nữa, chưa có nhận thức và tinh thần “về Thăng Long và lên Yên Tử”. Nhiều lĩnh vực khác cũng vậy. Chung nhất cũng là vậy.
Mùa xuân này, hãy cùng nghiệm lại xem.”

Cuốn sách nổi tiếng của tác giả Mỹ Eric J. Hobsbawm, được dịch ra hầu hết các thứ tiếng trên thế giới, ngoài tên chính Thời của các cực đoan (Age of Extremes) còn có một phụ đề lạ, rất gây chú ý: “Thế kỷ 20 ngắn” (The Short Twentieth Century) (1) .

Theo Hobsbawm thế kỷ 20 tự nhiên kéo dài từ năm 1901-2000, nhưng thế kỷ 20 thực thì ngắn hơn nhiều, nó chỉ bắt đầu năm 1917 và kết thúc năm 1991. Có hai đoạn dư thừa ở hai đầu, trước 1917 còn thuộc về thế kỷ 19, sau 1991 thì đã sang hẳn một thế kỷ khác, mà nay chúng ta đang sống, sống khác với trong cái “thế kỷ 20 ngắn” kia. Có và cần những lo toan, những suy nghiệm, và nói to tát một chút, những minh triết khác.
Lịch sử của xã hội và con người không phải bao giờ cũng trùng khớp với lịch sử tự nhiên. Các đoạn khúc của nó thường ngắn hơn hoặc dài hơn.
Lịch sử nước ta cũng vậy. Viết lịch sử Việt Nam hiện đại, chắc phải có một dấu chấm xuống dòng, thậm chí một chấm đậm chuyển đoạn ở 1975. Cũng thế, viết sử xưa của nước Việt, hẳn không thể để cho thiên niên kỷ I chấm dứt ở năm 1000, mà đúng ra phải là 1009.
Sang 1010 thì rất khác rồi: Lý Công Uẩn đã quyết rời vùng rừng núi chật hẹp lẩn trốn và chống đỡ Ninh Bình, ra đứng giữa thanh thiên bạch nhật trung tâm châu thổ sông Hồng, tuyên bố dõng dạc sẵn sàng đối diện với một thế giới mới, tạo một con đường phát triển mới, thế mới và số phận mới cho đất nước. Một khúc đoạn lớn khác của đời sống dân tộc lâu dài.
Có điều gì đó rất tương tự giữa hai cái chấm xuống dòng này, 1010 và 1975. Tương tự quan trọng, mà thật tiếc trong kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long vừa rồi ta đã lễ lạt quá nhiều mà suy ngẫm như rất đáng để suy ngẫm thì ít quá.

Tương tự lớn: chấm dứt kiếp sống nô lệ một ngàn năm; và chấm dứt cuộc đấu tranh để dứt khoát đi ra khỏi đêm đen nô lệ gần ba trăm năm. Trong hai cuộc sang trang này, một thiên niên kỷ trước cha ông ta đã nghĩ gì và làm gì? Còn chúng ta hôm nay?
Rất trọng đại là kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long. Nên cần, dịp này, hiểu cho ra ý tưởng lớn của tiền nhân từng khiến ngày ấy những người đứng đầu và chịu trách nhiệm về vận mệnh dân tộc đã có những hành xử không hề theo nếp nghĩ thông thường. Ít nhất thể hiện trong hai việc:
Một, dời đô về chính Thăng Long, chứ không ở đâu khác.
Và hai: các vua Lý, rồi Trần đều nhường ngôi rất sớm, khi đã chín từng trải lại còn rất sung mãn, sung mãn nhất cả lực và tuệ, để đều lên Yên Tử.
Vì sao?

Ảnh: Uyên Viễn

Thử xin bắt đầu trước bằng điều thứ hai (2) . Ngô Thời Nhậm từng bảo các vua lên Yên Tử là muốn đứng trên đỉnh cao lợi hại thường xuyên ghé một con mắt cảnh giác về biên thùy phương Bắc hiểm yếu. Thế nước ta thời nào cũng vậy, dự đoán của nhà chiến lược họ Ngô chắc có điểm không sai.
Ta cũng lại biết những bi kịch cá nhân từng dày vò các vị vua rất vua và rất người ấy, khiến họ phải tìm đến cửa Thiền…
Song, chắc chắn không chỉ có thế, và thực tế lịch sử đã minh chứng: các vua lên Yên Tử là để làm triết học. Tác phẩm triết học quan trọng nhất của lịch sử tư tưởng Việt Nam, Khóa hư lục, đã ra đời trên chính đỉnh núi đó. Và quả thật Lý Trần là thời hiếm hoi đến gần như duy nhất người Việt có sự tập trung làm triết học.
Triết học gì? Có thể nói một cách thật vắn tắt và giản lược: vừa học lấy mô hình tổ chức nhà nước trung ương tập quyền mạnh theo học thuyết Nho giáo của chính kẻ xâm lược vừa bị đuổi đi, để đủ sức đứng vững trong cuộc Bắc cự lâu dài; vừa xây dựng cho dân tộc một nền tảng tư tưởng độc lập vững chãi, thâm hậu, lâu bền trên cơ sở triết học Phật giáo mà người Việt đã tiếp nhận rất sớm, có mặt sớm hơn cả Trung Hoa (ở Luy Lâu, quê Lý Công Uẩn), Việt hóa nó mạnh mẽ và sâu sắc bằng kết hợp nhuần nhuyễn với văn hóa cổ truyền bản địa.
Chính vì thế mà (1) lại có việc nhất thiết về Thăng Long, chứ không đâu khác. Thăng Long: hội tụ của nguồn cội văn hóa Việt tinh túy và lâu đời nhất.
Cho nên cuộc dời đô của Lý Thái Tổ, đương nhiên mang đầy ý nghĩa chính trị, kinh tế, quân sự… nhưng trước hết là một hành động văn hóa. Bởi vị vua vĩ đại đó của lịch sử Việt Nam đã quyết bắt đầu một sự nghiệp nghiêm trang, trọng đại: Phục hưng dân tộc.
Chống cự dai dẳng một ngàn năm để không bị “nấu chín” (2) bởi văn hóa phương Bắc là chiến công kỳ diệu. Đuổi hết xâm lược ngàn năm trên đất đai tổ quốc là tuyệt đỉnh anh hùng. Nhưng đối với dân tộc, với con người Việt, đến lúc này mới là khởi đầu, chứ không là kết thúc.
Giang sơn đã được dọn hết trở ngại bên ngoài để mà làm lại. Làm lại giang sơn, làm lại dân tộc, làm lại con người. Mà cuộc làm lại như vậy, ai cũng biết, bao giờ cũng phải là làm lại bên trong, trong gan ruột nội tạng của mình, lúc này mới bắt đầu, mới có thể bắt đầu. Và chỉ có thể làm bằng văn hóa. Đánh giặc là thuốc chữa bệnh ngoài da; văn hóa mới là thuốc cho nội tạng. Dời đô, rồi lên Yên Tử, các vua Lý Trần minh triết và uyên thâm biết chừng nào!
Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long là để nghiệm kỹ về ý tưởng và hành xử lớn ấy của người xưa.
Cho hôm nay.
Những tư tưởng lớn gặp nhau, dẫu qua hằng thiên niên kỷ.
Ở Nga có một tác phẩm của Maxime Gorki tên là Những ý tưởng không hợp thời, viết năm 1918 nhưng mãi gần đây mới được biết tới rộng rãi.
“Không hợp thời”, Gorki đã tự gọi những ý tưởng của mình như vậy, bởi trong những ngày sôi nổi và hứng khởi nhất của Cách mạng tháng Mười Nga, là nhà văn hóa lớn, yêu thống thiết nhân dân Nga và đất nước Nga mà ông vốn từng sống ở tận “dưới đáy” (3) , với tinh thần trách nhiệm và sự bình tĩnh, sáng suốt của một nhà văn hóa lớn, với lòng dũng cảm phi thường, không hề sợ đi ngược chiều gió cả giữa bão táp, ông cảnh báo: “Cách mạng đã đánh đổ nền quân chủ, điều đó đúng! Nhưng điều đó có lẽ cũng có nghĩa rằng cuộc cách mạng đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong nội tạng… Không được phép tin rằng cách mạng đã chữa trị và làm phong phú cho nước Nga về mặt tinh thần”.
Chúng ta hiểu ý tưởng sâu sắc của Gorki: Cách mạng đã gạt bỏ cản trở bên ngoài, trên bề mặt (“ngoài da”) để cho phép tiến hành chữa trị những căn bệnh chí tử của thực tế Nga, nhưng công cuộc chữa trị chỉ được bắt đầu sau cách mạng chứ không phải trong cách mạng, bằng cách mạng. Cách mạng đã thành công, nhưng những căn bệnh trầm kha thì vẫn còn nguyên đấy, thậm chí nếu trước kia nó ở trên bề mặt thì bây giờ cách mạng đưa nó lặn vào trong nội tạng chứ không hề trừ tiệt được nó. Và như vậy thì lại còn nguy hiểm hơn, nếu coi mọi sự đã xong và dừng lại. Hoặc cứ tiếp tục theo một cách ấy.
Rất triệt để, ông còn viết tiếp: “(Trong cách mạng) chúng ta sống giữa một cơn bão của các xúc cảm chính trị, trong sự hỗn độn của một cuộc chiến đấu giành quyền lực; cuộc chiến đấu này đánh thức bên cạnh các tình cảm tốt đẹp còn cả những bản năng đen tối. Điều đó là tự nhiên, nhưng lại đe dọa bẻ cong đi tính cách của chúng ta, và làm cho nó phát triển một cách giả tạo theo một hướng nhất định. Chính trị là miếng đất trên đó các loại cây gai của sự thù địch độc hại, các nghi kỵ xấu xa, các sự lừa dối trơ trẽn, vu khống, các thói háo danh bệnh hoạn và sự khinh thường nhân cách phát triển nhanh chóng và um tùm. Nếu đếm hết những cái xấu chứa trong con người – thì tất cả những thứ đó đều phát triển đặc biệt rất nhanh trên miếng đất của cuộc đấu tranh chính trị…”.
Còn có một nhà cách mạng lớn và là một bậc hiền triết hiện đại cũng từng suy nghiệm không hề kém sâu sắc: Nelson Mandela. Sau khi đã cống hiến cả cuộc đời để lãnh đạo thành công cuộc đấu tranh của nhân dân Nam Phi lật đổ chế độ Apartheid, bình tĩnh và hiền minh đến kinh ngạc, ông nói với nhân dân của mình và tự nói với chính mình: “Chúng ta chưa tự do, chúng ta mới chinh phục được quyền tự do để trở nên tự do”. Cuộc đấu tranh để xây dựng con người tự do chỉ có thể bắt đầu sau cuộc chinh phục đó, chứ không phải trong và bằng cuộc ấy. Hơn thế nữa, vì thắng lợi của cuộc chinh phục, tất cả các phương tiện đều nhất thiết phải được huy động bằng bất cứ giá nào, nên chất độc của những phương tiện bắt buộc phải sử dụng ắt không thể không nhiễm độc xã hội và con người.
Thế kỷ mới của chúng ta, nói theo cách của Hobsbawm, không phải chỉ đến năm 2000 mới có mà đã bắt đầu từ năm 1975. Đã chuyển xuống dòng lớn từ đó, mà có lẽ chúng ta đã chưa đủ tỉnh táo và minh triết để nhận ra như người xưa. Cũng chưa đủ minh triết và tỉnh táo để biết rằng cách mạng và chiến tranh cách mạng là rất vĩ đại nhưng chỉ mới là dọn sạch giang sơn trên bề mặt, mặt khác công cuộc vĩ đại đó đã nâng cao dân tộc và con người Việt Nam lên nhưng những phương tiện chúng ta đã nhất thiết buộc phải dùng để giành thắng lợi sống còn lại cũng đã tiết chất độc không thể không có của chúng vào xã hội và con người.
Nếu không phải vậy thì làm sao giải thích được sự xuống cấp văn hóa (chứ không phải chỉ xuống cấp về văn hóa) nghĩa là sự suy đồi xã hội, bất ngờ, nghiêm trọng đến thế hiện nay, ngay sau chiến công lừng lẫy kia? Chúng ta đã không đủ tỉnh táo để nghiêm khắc tự nhìn vào nội tạng và dũng cảm suy tính một cuộc làm lại căn bản. Nói những lời rất to tát nhưng chúng ta đã không làm văn hóa như phải làm, như Lý Trần xưa đã làm, như Maxime Gorki và Nelson Mandela đã cảnh báo. Trong tất cả những công việc mà chúng ta đã nỗ lực rất lớn suốt 35 năm nay, không có nhận thức tỉnh táo và nghiêm khắc đó làm cốt lõi và nền tảng. Không “về Thăng Long và lên Yên Tử”.
Có phải tất cả vấn đề hôm nay là ở đấy? Nếu không thì dù ồn ào đến mấy, như trong kỷ niệm vừa rồi, vẫn là lận đận trong thế kỷ cũ, vẫn là chưa sang được thế kỷ mới. Chưa xuống dòng, chưa sang trang.
Để nói một ví dụ, chẳng hạn thử nghĩ tại sao nền giáo dục của chúng ta cứ như “bỗng dưng” lại ngổn ngang đến thế? Chỉ vì nó mãi loay hoay chưa xác định được nhiệm vụ bồi đắp nhận thức và tinh thần của một nền giáo dục cho sự phục hưng dân tộc. Và hơn thế nữa, chưa có nhận thức và tinh thần “về Thăng Long và lên Yên Tử”. Nhiều lĩnh vực khác cũng vậy. Chung nhất cũng là vậy.
Mùa xuân này, hãy cùng nghiệm lại xem.
_____________________________________________
(1) Nhà xuất bản Tri thức sắp cho ra mắt bản dịch tiếng Việt tác phẩm này. Trong bản dịch tiếng Pháp (Édition complexe – Paris, 1994), phụ đề nói trên được ghi là “Lịch sử thế kỷ 20 ngắn”.
(2) Trung Hoa gọi các dân tộc đã bị đồng hóa bởi xâm lược văn hóa Hán là các dân tộc đã được “nấu chín” (“chử lý”); những dân tộc chưa bị đồng hóa như vậy là những dân tộc “còn sống [sít]” (“sanh lý”).
(3) “Dưới đáy”, tên một tác phẩm nổi tiếng của M. Gorki.
Nguồn:Thời báo Kinh tế Sài Gòn số Xuân Tân Mão 2011

 

19.Việt Nam, Trung Tâm Nông Nghiệp Lúa Nước Và Công Nghiệp Đá, Xưa Nhất Thế Giới(1)

BS tiến sĩ Nguyển Thị Thanh

Lời xác-minh của tác giả : Những ý kiến trong bài nghiên cứu sau đây hoàn toàn khách quan dựa? trên những tài liệu lịch sữ và khảo cổ Việt Nam, Trung-hoa, Pháp, Hoa-kv và Liên-xô chúng tôi không hề đưa ra một sự kiện lịch sữ chủ quan nào có thể làm hại đến uy danh văn hóa của một quốc gia nào khác. Chúng tôi chỉ vì sự thât của lịch sữ dân tộc và nhân loại. Nếu có điều gì bất như ý đối vơi cá nhân hay quốc-gia nào, kính mong quý vị học giả thông cảm, chúng tôi xin đa tạ.

1.Trong Việt Nam Sư-lược, sữ gia Trần Trọng Kim đã viết: “Tích Quang và Nhâm Diên sang làm thái thú tại Giao-Chỉ và Cửu-chân (2 quận lớn trong 9 quận của Việt Nam cổ), dạy dân điều lễ nghĩa, cưới vợ hỏi chồng, dùng cày bừa mà cày cấy ruộng, vì trước đó dân Giao Chỉ chỉ biết săn bắn và chài lưới….”. Sữ gia Ðào Duy Anh cũng viết “Nó (Trung Hoa) làm thầy khai hóa cho ta và các dân tộc Á Ðông khác.”

Sách vở của các vị sữ gia trên đã dạy dân học suốt bao thế kỷ. Người Việt Nam cứ cong lưng theo thế mà học về lịch sữ nước nhà. Có lẻ hai ông sữ gia trên đã dựa một cách tiêu cực vào sữ Trung Hoa mà không cố?236;nh suy luận và phán đoán về sữ liệu nước nhà (một gương sáng mà chúng cần lưu ý : Triều-Tiên và Trung-Hoa phản kháng 35 điểm viết sai trong lịch sữ giáo khoa Nhật-Bản hiện nay).

Mặc dầu rằng 2 ông sữ gia nói trên đã có công viết nên lịch sữ nước nhà để dạy dân. Nhưng không hiểu vì sao 2 ông không hề quan tâm nghiên cứu tệ lắm là những gì quí báu ghi chép trong những bộ sữ? nước ta vào thế kỷ 13 là bộ Ðại-Việt Sữ- Ký do 2 sữ gia Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên biên soạn dưới thời nhà Trần; và bộ Sữ-Ký Toàn-Thư do Ngô Sĩ Liên biên soạn dưới thời nhà Le⬠cùng nghiên cứu các sách vở khác của Trung-Hoa.

Trước thế kỷ 13 là thời kỳ độc lập lâu dài, chắc hẳn chúng ta đã có nhiều tài liệu lịch sữ cũng như luật pháp và văn chương. Bằng chứng là Mã Viện đã tâu với vua Quang Vỏ nhà Ðông Hán là luật của Trưng Vương có 10 điều khác với luật Tàu cần hủy bỏ để trói buộc họ (xem hình chụp lời của Mã Viện sau). Sở dỉ ngày nay chúng ta không còn một dấu tích gì về các bộ luật cổ, sữ điổ, văn chương cổ mà điển hình là luật đời Trưng Vương vì Tàu đã tiêu tiêu hủy hay cướp đem về Tàu tất cả. Một trường hợp cụ thể khác mà GS Lê Hữu Mục vừa cho biết là Trung hoa đã cho xuất bản một quyễn sách mà tác giả là Lê Quý Ðôn (đây là một trường hợp hi hữu đáng khen vì tuy sách bị cướp nhưng tên tác giả còn đượcg giữ)?ư vậy biết bao là tài liệu về lịch sữ văn chương vv… của tổ tiên chúng ta đã bị cướp phá và tiêu hủy.

Tưỡng cũng hữu ích ở đây khi trở lại thời tiền sữ? Trung-Hoa và Việt Nam. Sữ Trung-hoa chép, khoảng 3000 năm trước T-C, dân du mục Mông-Cổ vượt sông Hoàng-Hà đánh chiếm nước Bách Việt từ sông Hoàng Hà đến sông Dương-Tử? của Ðế-Lai. Ðế Lai xưng là thiên tử làm vua phương Bắc, là con Ðế Nghi, cháu nộ⩠Ðế Minh. Ðế-Minh là cháu 3 đời của vua Ðế-Viêm tức Thần Nông. Ðế Minh đi ngao du đến núi Ngũ Lĩnh (tỉnh Vân Nam ngày nay)? gặp một tiên nữ (ngưởi tài giỏi và rất đẹp nên được người đời ấy tặng biệt hiệu là tiên nữ), đẻ ra Lộc Tục. Ðế Minh cho Lộc Tục làm vua phương Nam từ Dương-Tử-Giang đến tận Việt-Thường. Lộc-Tục làm vua Bách Việt phương nam đặt tên nước là Xích-Quĩ, xưng hiệu là Kinh-Dương-Vương lấy nàng Long-Nữ con Ðộng Ðình-Quân đẻ ra Sùng-Lãm tức Lạc-Long-Quân (như? vậy là Lạc-Long-Quân là con Nữ-Rồng và cháu nội của Nữ-Tiên: do đó mà chúng ta được gọi là con Rồng cháu Tiên).

Bản đồ trận Trác Lộc Bản đồ nước Xích Quĩ

Lạc-Long-Quân nối nghiệp Kinh Dương Vương làm vua phía Nam sông Dương tử. Ðế Lai đem con gái Âu-Cơ gả cho Lạc Long-Quân. Sau đó Ðế-Lai cùng em họ là Lạc Long-Quân lập liên minh Xích Quĩ đánh nhau với du mục Mông Cổ tại Trác-Lộc trên sông Hoàng-Hà(3.000 tr. T-C). Mông cổ thắng trở thành Hán tộc. Người Hán rất ghét thủ lảnh Liên Minh Xích Quỉ là Ðế Lai nên gọi ngài là Xi-bưu? (xấu xí láo lếu). Ðế Lai tử trận,? Lạc-Long-Quân có thể đã chết trong trận Trác-Lộc, hoặc còn sống thì đem một số con cái tuóng tá và tàn quân chạy ra biển tản mác khắp nơi trên Thái-bình-Dương. Mông Cổ chiếm bình nguyên Hoàng-Hà xưng là Hoàng-Ðế lập nên Trung-Quốc và cũng bắt chước Ðế Lai xưng là Thiên tử. Một số thị tộc Bách Việt mà Hán Mông cổ gọi là man di, ở lại sống chung rãi rác khắp nơi.

Vợ Lạc Long Quân là nàng Âu Cơ, con gái Ðế Lai kéo quân qua sông Dương-Tử, trở lại chốn rừng núi phía nam tức là nước Xích Quĩ, chia các con cai trị sinh ra 18 dòng họ Hùng-vương. Cho tới Bắc thuộc lần thứ I, biên giới nước ta kéo dài từ Ðộng Ðình Hồ trở xuống đến Việt Thường (Trung Việt ngày nay).

Nếu so sánh giữa hai sắc dân, Mông Cổ du mục và Bách Việt nông nghiệp sống định cư thì chúng ta dễ hiểu rằng nguồn gốc nông nghiệp của Tàu là do dân Miêu tộc (tên người Hán gọi Bách Việt). Dân Bách Việt vốn đã có nghề nông từ lâu đời trước khi Mông-Cổ đến. Vả lại các vị Thần nông, Phục-hi, Nữ-Oa vv. là tổ tiên của Bách Việt đã chết lâu đời trước trận Trác-Lộc. Vậy nên Hán tộc gốc Mông Cổ hoàn toàn không liên can gì đến sự nghiệp nhà nông của các Vị nói trên. Và dân Bách Việt cũng đã thạo thành về nông nghiệp lâu đời từ trước khi mông Cổ đến. Chúng ta thữ chứng minh nhận xét hoàn toàn hợp lý trên đây.

Lịch sữ Việt Nam đã chứng minh rõ nét rằng Việt Nam có nguồn gốc Bách Việt và luôn tự xưng là Bách-Việt,? mà là Bách Việt thuộc thành phần chính thống, trung kiên, bất khuất, lãnh đạo. Lúc bị dân du mục Mông Cổ đánh bại tại Trác-Lộc, Lạc-Long-Quân là vua nước Xích -Quỉ bị tử trận hay chạy ra biển nhưng nước Xích-Quỉ được bà Âu-Cơ giữ gìn nguyên vẹn. Một số người Bách-Việt phương Bắc ra đi đến nước Xích Quỉ phải là tầng lớp lãnh đạo Bách Việt. Kẻ ở lại bị coi là dân man di nô lệ, chung sống với dân Mông Cổ mà thành dân Trung-hoa ngày nay.

Nói như thế chỉ để chứng minh rằng nền văn minh nông nghiệp của dân Bách Việt không phải do du mục Mông Cổ khai sáng. Ðó là tàng tích Bách Việt hoàn toàn. Nếu phải nói một cách công bằng thì văn minh nông nghiệp Bách Việt là tài sãn chung của toàn thể Bách Việt? mà Việt Nam là chủ yếu. Trung-Hoa có nông nghiệp từ thời tiền sữ là nhờ vào dân Miêu tộc (tức Bách Việt ở lại chung sống). Vậy cả hai dân tộc Trung-hoa gốc man di Bách-Việt? và Việt Nam gốc Bách Việt chính thống đều là dân đã làm nên nền nông nghiệp từ rất nhiều thiên niên kỷ trước khi Mông Cổ đến xâm lăng đất đai?

http://www.nguyenthaihocfoundation.org/lichsuVN/nguocgoc_ttnp1.htm

2.Người Hán gốc Mông Cổ cai trị Trung-hoa lâu đời, và đô hộ Việt Nam non 1000 năm, nên lòng người man di Trung-hoa gốc Bách Việt cũng như lòng người Việt Nam dần lãng quên gốc gác của mình mà tưỡng rằng văn minh nông nghiệp là do Tàu Mông cổ (Hán) khai hóa !

Ðối với dân tộc Trung-quốc thời bấy giờ, người Hán có nguồn gốc Mông Cổ là lớp quí tộc chủ nhân, lớp lãnh đạo quyền uy giàu có. Miêu tộc tuy đông, làm nghề nông bị liệt vào hàng bần cùng, nô lệ, bị coi làman di.

Trở lại Việt sữ, trong 2 bộ sữ xưa của Việt Nam là bộ Ðại Việt Sữ Ký do 2 sữ gia Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên biên soạn dưới thời nhà Trần, và bộ Sữ Ký Toàn Thư do Ngô Sĩ Liên biên soạn dưới thời nhà Lê đã ghi: “Trước họ Hồng Bàng (Kinh Dương vương) còn nhiều đời vua nhưng không kể đến..(đó là các vua Phục-HY, Ðế Viêm, Ðế Minh, Ðế Nghi vv.”, và rằng ” …từ họ Hồng-Bàng (2879 tr. TC) dân ta cầy cấy mà ăn, đào giếng mà uống…” rằng “Vua Kinh Dương Vương nối nghiệp con cháu Thần nông, lấy con gái vua Ðộng Ðình, tỏ rỏ đạo vợ chồng, nắm ngay gốc văn hóa, lấy đức mà cảm hóa dân…đó chẵng phải là phong tục thái cổ từ Viêm Ðế ư ?.” Có lẻ Trần Trọng Kim và Ðào Duy Anh cho là tưỡng tượng nên không tin vào đoạn sữ nầy.

Trong lúc đó sữ gia Trần Trọng Kim viết, họ Hồng Bàng có vua Kinh Dương Vương (2879-258) là dòng dỏi Vua Thần Nông có quốc hiệu là Xích Quĩ, có con là Lạc-Long-Quân nối ngôi ( 2.804 năm tr. TC). Ðã gọi là con cháu vua Thần nông thì tại sao không rành về nghề nông mà phải đi nhờ dân gốc Mông Cổ dạy!

Như thế, rõ ràng 2 sữ gia Trần Trọng Kim và Ðào duy Anh chỉ biết dựa trên sữ của một quốc gia đã xâm lăng nước ta lâu đời và luôn có khuynh hướng chiếm, phá hoại hay xuyên tạc văn hóa tiền sữ và lịch sữ của dân tộc Bách việt. Tuy nhiên nhờ vào di vật của tổ tiên còn để lại trong lòng đất, các học giả khảo cổ học ngoại quốc và Việt Nam đã chứng minh cho chúng ta và thế giới ngày càng thấy rõ sự thật, rằng chính dân Bách Việt nông nghiệp Bắc Việt đã ảnh hưỡng giáo dục lễ nghĩa, nông nghiệp và công nghiệp cho khắp lục địa Nam-Á trước khi Mông Cổ tới nhiều nghìn năm (sẽ chứng minh rõ sự kiện nầy)

Ðối với Bách-Việt thì ta có thể nói rằng khi dân du mục Mông cổ đánh liên minh Xích-Quỉ của Ðế Lai – Lạc Long Quân mà chiếm bình nguyên sông Hoàng Hà có thể coi đó là Bắc xâm lược lần thứ I (3000 năm tr.TC). Lúc Tần Thủy Hoàng chiếm nước Việt Âu Lạc của Thục An dương vương là Bắc thuộc lần thứ II (246-206 tr TC). Lúc nhà Hán dứt nước Nam-Việt của họ Triệu là Bắc thuộc lần thứ III. Nhà Ðông Hán đô hộ nước Lĩnh-Nam của Trưng-Vương là Bắc thuộc lần thứ IV. Những tài liệu nầy, kể cả tên nước Xích Quỉ cũng đều được nêu ra trong tài liệu viết sữ của các sữ gia nói trên, riêng về ranh giới thì lại càng rất đúng.

“Tích Quang và Nhâm Diên sang làm thái thú tại Giao-Chỉ và Cửu-chân (2 quận lớn nhất được coi là kinh đô của Việt Nam cổ), dạy dân điều lễ nghĩa, cưới vợ hỏi chồng, dùng cày bừa mà cày cấy ruộng…..”.? Qua những tài liệu trên làm sao tin được sự kiện lịch sữ nầy chứ ? . Chúng ta hãy nghe những câu nói của Ðức Khổng Tử sau đây.

Khi một môn đồ suôi Nam đến đất Việt, xin Ðức Khổng Tử chỉ dạy, ngài nói “…người Bách Việt miền nam (phía nam Dương Tử Giang) có lối sống, tiếng nói, luật lệ, phong tục, tập quán, thức ăn uống riêng…”, …? “…dân Bách-Việt chuyên? làm ruộng lúa mà ăn chứ không như chúng ta trồng kê và lúa? mì. Họ uống nước bằng lá cây hái trong rừng gọi là trà.”

Một lần khác Ðức Khổng Tử? xác nhận : “Những đạo lý?ài) viết ra điều là những điều đã có sẵn trong dân gian (dân chúng gốc Bách-Việt) “. Chính những đạo lý đó Mông Cổ hoàn toàn không có vì với Mông-Cổ chỉ có đạo lý củ sức mạnh. Vì thế Ðức Khổng Tử mới lấy đạo lý từ dân gian, viết ra để dạy cho vua quan là giòng giỏi Hán tộc Mông Cổ.

Ðức Khổng Tử còn nói rằng : “Dân Bách Việt rất thích ca múa, vừa làm việc vừa ca vè, hát đối, nói vận (vè, thơ, ca dao), lấy lá cây mang vào người, trá hình múa hát…” . Và Ðức Khổng tử cho rằng: “xướng ca vô loại, chẵng nên ca múa như dân Nam Man”. Nên trong thời gian đô hộ quan Tàu cấm dân ta múa hár trong những ngày lễ lạc. Nhưng hát-bội hay hát-bộ (vừa hát vừa làm bộ điệu) gốc Bách Việt mà Tàu rất thích nên họ phát triển hát bộ (sau nầy lại truyền qua cho Việt Nam phương thức hát bộ mới, được chế biến thêm. Miền Nam Việt Nam lại cải biến thêm thành Cải Lương, Tàu lại chế biến thành cãi lương Hồ-Quãng).

Sách Hậu Hán Thư quyển 14 viết lại “Dân Giao-chỉ (thủ đô của Bách Việt phương nam) biết nhiều thủ công nghiệp, luyện đúc đồng và sắt vv..”.? Sách Cổ Kim Ðồ Thư, Thảo Mộc Ðiếm của Trung-hoa chép: “Mã viện tâu vua Tàu, Giao-chỉ ép mía làm đường phèn: Giao chỉ có thứ cây mía ngọt, đem ép lấy nước rồi làm đường phèn.”. “Giao chỉ làm giấy mật hương: giấy mật hương làm bằng lá và vỏ cây mật hương trồng ở Giao-chỉ, giấy mềm, giai và thơm, ngâm nước không bở không nát”.

Vậy mà trong quyễn ART DE LA CHINE của ông Jean Buhot “Les Éditions du Chène, Paris” xuất bản tháng Tư năm 1951, tác giả đã viết “Le papier ayant inventé par la Chine dès la dynastie de Hán probablement, on peut croire qu?il connaissent depuis la même époque deux procédés : l?estampage et l?impression. ” “Giấy đã được Tàu phát minh ra từ thời nhà Hán, chắc như vậy, và người ta có thể tin rằng cũng vào thời ấy người Tàu đã biết 2 kỹ thuật : rập khuôn bằng tay và in ấn ..”. ?Xem như vậy thì thấy những sự hiểu biết của người Âu Châu về Trung-Hoa và Việt Nam lệch lạc và bất công biết bao nhiêu.

Các sách cổ khác của Trung quốc như Giao-Châu Ký, Tam Ðô Phủ, Ngô Lục Ðịc Lý Chí, Nam Phương Thảo Mộc Trạng vv. đều chép đại lượt rằng : “Dân Lạc Việt trồng lúa mà ăn, dùng lá trà mà uống…”;… “…họ biết uống nước bằng lổ mủi…”;… “…nuôi tằm mà dệt vải…”; “…dùng đất sét đào sâu trong đất, thái mỏng phơi khô làm thức ăn quí, dùng làm quà quí để đi hỏi vợ…”;… “…dùng đá màu làm men gốm…”;. “.dùng mu rùa mà bói việc tương lai.”;. “.họ dùng một khúc tre dài chừng 1 thước hơn, một dầu có trụ cao làm tay cầm, có giây buộc vào trụ lại đằng kia mà làm đàn gọi là độc huyền cầm.”…. “…họ đem tính tình các con vật mà so sánh với ngươời, rồi họ truyền tụng rằng ngày thứ nhất trời sinh con chuột, ngày thứ hai sinh con trâu, ngày thứ ba trời sinh con cọp …(chuyện thần thoại của người Dao : gốc tích của 12 con giáp của tử vi ngày nay)”. “Họ biết tìm hiểu các thức ăn nóng mát (tức thuyết âm dương) để trị bệnh, dùng kim đâm vào da thịt? lấy máu để trị bệnh (lễ giác bầu), lấy đá hơ nóng áp vào da thịt để trị bệnh….”; … “. Họ rất quí các loài chim, biết tập chim biết nói, … họ cónuôi nhiều chim trỉ sống trên núi rất đẹp (mà sau nầy Tàu gọi là phụng hoàng)”. Sữ Tàu kể rằng vào thời nhà Châu bên Tàu dân Bách Việt quận Việt Thướng đem tặng vua nhà Châu cặp chim trĩ, sau đó nhờ Tàu dùng xe chỉ nam của Mông Cổ chỉ đường về.

Những ghi chép thường có tính cách kỳ thị là man di. Nhưng những chuyện huyền thoại cổ Man Di như chuyện ông Bàng Cổ gốc người Dao (xem Bàn Cổ của Nguyễn Văn Diễn), chuyện bà Nữ Oabiết “đội đá vá trời” tức có kinh nghiệm về thời tiết mưa gió, dạy dân theo thời tiết mà trồng trọt, Thần Nông dạy dân làm ruộng, Viêm đế (vua xứ nóng Bách Việt) thì dân Mông Cổ chiếm lấy làm của riêng. Thật ra lúc đầu người Hán không quan tâm những câu chuện có vẻ hoang đường của dân Bách-Việt. Nhưng khi họ hiểu ý nghĩa triết lý sâu xa của những câu chuyện hoang đường về các Vị, thì ho ép ngay câu chuyện và? nhận ngay các Vị có gốc Bách Việt ấy làm tổ tiên của họ. Họ cũng có lý một phần, vì dân Miêu tộ⣠Trung-hoa là hậu duệ các Vị. Nhưng họ phải hiểu rằng dân Việt Nam mới là con cháu đính thị của các Vị.

Tuy người Tàu vẩn biết tổ tiên của người Hán có nguồn gốc Mông-Cổ có con vật tổ? là cọp trắng, với nhà truyền thống cổ là nhà gốc du mục hình tròn. (Les premières civilisations LA CHINE ANCIENNE, trang 28-29, của ông William Watson xuất bản năm 1969 tại Grande Bretagne) (xem hình của Bs Thanh vẻ lại dựa theo hình nhà khảo cổ của ông William Watson). Trong lúc đó nhà cổ của Bách Việt là nhà sàn hình chữ nhật làm bằng tranh và tre cong cho chắc chắn, dần dà sinh ra mái cong. (xem hình vẻ của Bs Nguyễn Thị Thanh, phỏng theo loại nhà minh khí {nhà chôn theo người chết} bằng đất nung thời Hùng Vương tìm thấy trong văn hóa Ðông-Sơn 2.800 ans tr T-C). Ngày nay thế giới và cả người Việt Nam cũng đều lầm tưỡng rằng con rồng (chỉ là hiện thân của con cá sấu) con chim phụng (làhiện thân của loài chim trỉ) vật tổ của Trung-Hoa, và mái nhà cong là văn hóa cổ truyền của họ luôn. Chẵng qua đó là hiểu lầm. Ngày nay nhờ khảo cổ học mới có thế chứng minh được sự thật.

Dầu sao thì cũng nhờ vào ảnh hưởng Bách Việt mà Trung quốc phát triển về mọi mặt văn hóa sau này và cả Nhật-bãn và Ðại-Hàn cũng nhờ vào ảnh hưỡng Bách-Việt qua Trung-Hoa. Trong lúc đó thế giới đặt biệt là người Pháp cứ cho là Việt Nam bắt chước Tàu (trong quyễn LES POTERIES ET PORCELAINES CHINOISES tác giả là bà Daisy LION-GOLDSCHMIDT đã cho rằng Annam bắt chước gốm Hoa-lam của Tàu (trang 4), trong khi chính Việt Nam có gốm trước Tàu và thợ gốm giỏi Việt bi Tàu bắt về tất hết cả, và gốm hoa lam Việt có trước Tàu và hoàn toàn khác Tàu),? và ngay cả dân Việt Nam cũng lầm lẩn và lẩm cẩm cho rằng văn hóaViệt Nam nhờ ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa.

Tệ lậu hơn nữa, hiện nay có nhiều nhà khoa bản Việt Nam còn không biết văn hóa là gì, còn cho là dân mình không có văn hóa nữakia, hoặc có chăng chỉ là cái “búi tó trên đầu” (bài “Bảo tồn Văn-hóa” ?! của nhà đại khoa bảng bác-sĩ giáo-sư? Ðại-học danh tiếng Mỹ kiêm nhà văn Vủ Ðình-Minh biệt hiệu là Mai-Kim-Ngọc đăng trên nhiều báo đặc biệt là báo Y-giới: bài viết có tính cách? mĩa mai Việt Nam không có văn hóa gì để mà bảo tồn hết trơn hết trọi, hoặc giả có chăng chỉ có cái “búi tó” của ông nội nhà khoa bảng MKN).

Trở lại nông nghiệpcủa dân Bách Việt. Làm ruộng cần công cụ. Nền nông nghiệp sinh công nghiệp. Công nghiệp sãn xuất côﮧ cụ cho thợ đá, kỹ nghệ đá, cho thợ đồng, kỹ nghệ? đồng và các thứ tiểu công nghiệp khác như nghề nuôi tằm dệt vải, làm đồ gốm của nước ta từ trước thời các vua Hùng cho đến thời Bắc thuộc lần đầu tiên (111 tr TC)?273;ã phát triển xa hơn Tàu và không hề nhờ phương bắc giáo huấn.

Trái lại các thợ giỏi và kỷ thuật cao của nước ta bị sức mạnh cướp lấy để phát triển, dành lấy làm văn hóa của mình. Dân việt cổ bị cấm tuyệt mọi sinh hoạt kỹ nghệ bản địa công khai. Vì vậy những nền văn hóa thời tiền và sơ sữ Việt Nam bị ngưng hẵn từ thời Bắc thuộc lần đầu. Thế giới cũng hiểu rằng Trung Quốc đã ngăn chặn những nền văn minh tiền sữ Việt Nam và đã xung phong vào để tiếp nối những nền văn minh tiền sữ đó (sẽ có bằng chứng rõ về sau).

http://www.nguyenthaihocfoundation.org/lichsuVN/nguocgoc_ttnp2.htm

 

Việt Nam, Trung Tâm Nông Nghiệp Lúa Nước Và Công Nghiệp Đá, Xưa Nhất Thế Giới(2)

BS tiến sĩ Nguyển Thị Thanh

3.Từ trước đến nay chúng ta chưa khẳng định được những điều nói trên mà phải chờ di vật cổ tổ tiên để lại trong lòng đất mới có đủ luận cứ thuyết phục cho chính chúng ta và? thế giới. Khảo Cổ học đã nói lên cho chúng ta biết rất nhiều điều bí ẩn mà ngoại quốc đã hiểu lầm hoặc che dấu và xuyên tạc. Nhờ vậy ngày nay rất nhiều học giả Trung-hoa đã công nhận sự thật về nguồn gốc Bách Việt trong văn hóa Tàu.

Từ khi người Pháp qua cai trị nước ta, họ chiếm độc quyền về khoa Khảo-cổ. Từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khảo cổ học đã tìm ra ở trên đất nước chúng ta hiện tại, đặc biệt là từ miền Bắc vào Miền Trung từ xưa là đất cổ Việt Thường. Cho đến nay người ta đã tìm thấy rất nhiều nền văn minh tiền sữ? Việt Nam cổ liên tục nối đuôi nhau trên đất Bắc và Trung Việt. Thường khi tìm được di chỉ văn hoá ở đâu đầu tiên người ta lấy tên địa phương mà đặt cho nền văn hóa đó.

Văn hoá Việt cổ xưa nhất còn gặp nhiều di vật cách đây từ 30.000 năm trở lại được tìm thấy ở núi Ðọ, thôn? Sơn-vi tỉnh Vĩnh Phú được đặt tên là văn hóa Sơn-vi hay Tiền Hòa Bình. Nền văn hóa nầy được tìm thấy rải rác khắp miền Bắc và Trung Việt. Tuy việc tìm kiếm là ngẩu nhiên, nhưng? nhờ vào sự giàu thịnh nên người ta đã tìm thấy rất nhiều nền văn hóa có tính cách liên tục nối tiếp nhau từ văn hoá Sơn-Vi (30.000 năm tr, TC) qua Hoà Bình (16.000 – 7.000 tr TC) đến Bắc Sơn rực rở, Quỳnh Văn, Phùng Nguyên, Ðồng Ðậu, Gò Mun, Hoa lạc vv.. dần dần đến văn hóa Ðông Sơn huy hoàng có niên đại từ 800 năm đến 111 năm tr TC là thời gian bị Bắc thuộc lần đầu. Rồi từ 111 tr TC văn hóa nước ta ngưng hẳn chìm lỉm, vì sao ? Hỏi tức nhiên là đã trã lời. Dư âm của các nền văn hóa trên còn âm thầm kéo dài thêm vài thế kỷ sau Bắc thuộc rồi bị Tàu thôn tính và ẳm đi luôn.

Trong những nền văn hoá tiền sữ nước ta khi nói đến văn hóa Hòa Bình (di chỉ tìm thấy ở tỉnh Hòa-bình Bắc-Việt) thì từ lâu giới khảo cổ học và trí thức thế giới đều biết rằng đó là một trung tâm nông nghiệp và công nghiệp đá xưa nhất thế giới.

Nhưng vì sao dân tộc ta như các sữ gia Trần Trọng Kim, Ðào Duy Anh cứ luôn cho mình là dân man di, được Hán khai sáng, dạy cho cưới vợ hỏi chồng, dạy cho nông nghiệp…. Suốt 1000 năm cai trị, Hán lấy tài nguyên sãn vật quí, và bắt? thợ giỏi, gái đẹp cùng ngăn cấm dân truyền tụng văn hoá cổ, ngăn cấm dân ta phát triển kinh tế, và đập phá tất cả mọi công trình công nghiệp điển hình là gốm, lò luyện kim, lò đúc đồng trống đồng, đúc sắt.

Dân Việt sợ, ai có đồ gốm và đồ đồng, trống đồng thì đem chôn dấu. May thay khảo cổ học đã lấy lên từ lòng đất những sự thật về văn hóa tiền sữ và lịch sữ nước nhà. Nghiên cứu tài liệu khảo cổ, đối chiếu với tài liệu sử học là việc làm có bằng chứng khoa-học vững vàng giúp chúng ta tìm hiểu nguồn gốc văn hóa dân tộc. Lịch sử văn hóa mỹ thuật dân tộc Việt-Nam cần được soi tỏ dưới ánh sáng khoa học một cách công-minh.

Khác với lịch sử, sữ gia có thẩm quyền ghi chép nhiều ít theo ý mình những sự việc xẩy ra, văn-hoá mỹ thuật lịch-sử cần những sự thật cụ thể được chứng-minh bằng khoa-học. Lịch-sử phụ thuộc sữ gia, trong lúc văn-hoá mỹ thuật lịch-sử là công trình của tiền nhân để lại một cách đích thực, hiển nghiên, không thể chối cãi hay làm méo mó sự thật được.

Văn hóa mỹ thuật lịch sữ giúp tìm hiểu con người, hoàn cảnh, nghệ thuật, trình độ tiến hóa, sinh hoạt gia đình làng xã. Thế cho nên văn hoá mỹ thuật là một khoa học lịch sữ tuy khó khăn nhưng vô cùng quí báu lý thú. Những cổ vật là vô tri, nhưng qua đó chúng ta có thể tìm hiểu được cách sống, tư tưỡng , cá tính, tinh thần tập thể, tình cảm, hoài bảo và tư tưỡng triết thuyết trong? cuộc sống vật chất và tinh thần của tiền nhân. Vì vậy có thể nào chấp nhận lịch sử văn-hóa nước nhà qua hành động và lời lẻ khinh bạc, dìm dập, xuyên-tạc của thực-dân ngoại lai Tây và tay sai trong nước của họ.

Trở lại các thị tộc du mục Mông Cổ, thủy tổ nhà Hán vượt sông Hoàng hà đến chiếm dần dà trung nguyên bao la rộng lớn mà lập nên nước Tàu vĩ đại. Nghề nông là do dân Bách Việt làm từ lâu đời trước khi Mông Cổ đến chiếm, họ tiếp tục làm. Vị tù trưởng? Mông Cổ lên ngôi đầu tiên xưng là Hoàng đế và biến dân Bách Việt? thành nô lệ chỉ được quyền làm nghề nông hay làm lính.

Như vậy khi đến chiếm lục địa trung nguyên dân Mông Cổ được thừa hưởng tài sản nông nghiệp của bao nhiêu đời Bách Việt truyền lại. Tuy vậy xưa kia Hán tộc Mông Cổ rất kỳ thị, khinh miệt và đối xữ tàn ác với Miêu tộc Trung-hoa, do đó mới sinh ra chế độ nô lệ. Dân nô lệ Bách Việt thường chỉ được sống với nghề bản xứ, trồng trọt, đánh cá hay đánh giặc. Dân Hán là dân nắm chính quyền vẩn còn nhớ, yêu thích nghề du mục xưa, nên lấy sự săn bắn làm một thú tiêu khiển cho hàng vương giả.

Sau trận Trác-Lộc, lớp Bách Việt thuộc hàng lảnh đạo bỏ chạy về phương Nam là vùng đất cực nam của Bách Việt lập nên nước Việt cổ. Cũng lại bị nhà Hán đến đô hộ, và sự đô hộ kéo dài ngót 1.000 năm. Nhà Hán vừa chiếm Việt cổ họ thi hành ngay chính sách thực dân, thâu nạp không những của cải vật chất, mà họ còn rất chú trọng đến tài nguyên trí tuệ. Nhà Hán đã chiếm văn hóa tiền và sơ sữ của Bách Việt trên lục địa Trung Hoa từ trước. Nay lại chiếm luôn cả văn hóa sơ sữ Việt Nam của nước Lĩnh-Nam của Trưng Trắc từ Ðộng Ðình Hồ trở xuống Miền Bắc và Miền Trung Việt Nam cổ.

Họ có thâm ý làm cho người Trung-hoa và người Việt cổ quên hẳn quá khứ của giống nòi hầu dễ dàng buộc họ đồng hóa và chấp nhận rằng chính nhà Hán Mông-cổ khai hóa ra Bách Việt. Người Trung-quốc đã được sinh ra từ Mông-cổ đồng hóa với Bách-Việt. Và nhà Nguyên Mông-cổ và nhà Thanh Mãn-Châu sau nầy lại bị Trung-hoa đồng hóa lần nữa. Như vậy Mông cổ và Mãn Thanh đã bị man di Miêu tộc Bách việt đồng hóa thành Trung-hoa.

Người Tàu Mông cổ vốn có vật tổ là cọp trắng, và nhà cổ là nhà hình tròn gốc du mục? nhưng khi họ thấy vật tổ Bách Việt rồng phụng, và nhà cổ Bách Việt mái cong, có vẻ đẹp tao nhả? mỹ thuật, nên họ đã chiếm ngay văn hoá nhà cổ và rộng phụng Bách Việt làm của họ và người mình không hề dám hé môi hay trăn trối với con cháu.

Gần đây đào được trống đồng ở Vân-Nam, khảo cổ gia Tàu cũng tuyên bố ầm ỷ là trống đồng do Mã Viện và Gia Cát Lượng sãn xuất !. Sao họ có thể quên Hậu Hán Thư quyển 14 ghi rõ: “Dân Giao-Chỉ có linh vật là trống đồng, nghe đánh lên họ rất hăng lúc lâm trận….”. Chính vua Quang Vỏ nhà Ðông Hán đã ra lệnh cho Mã Viện phải phá hũy trống đồng Bách Việt. Vì thế trên đất Hoa Nam hiện tại là đất Việt cổ tìm thấy trống đồng là việc đương nhiên. Hậu Hán Thư quyển 14 chép: “Mã Viện là người thích cưởi ngựa giỏi, biết phân biệt ngựa tốt. Lúc ở Giao-chỉ Viện lấy được trống đồng đem đúc ngựa…” (xem hình chụp Hậu Hán Thư)

Mã Viện cũng đã phá trống đồng để đúc cột đồng trụ để chiếm cho chắc ăn phần đất từ Ðộng Ðình Hồ trở xuống của nước Lĩnh-Nam. Và vì sợ dân Giao Chỉ lấy cột đồng đúc trống và phá hủy biên giới do Mã Viện đề ra,? nên Mã Viện ghi “Ðồng trụ chiết,? Giao Chỉ diệt” để dọa dân việt cổ. Nhưng rồi chắc là dân ta cũng đã lén lấy đồng trụ để đúc trống vì thiếu đồng, nên đồng trụ biến mất. Ngoài ra, vì cần đồng để đúc trống nên thường đem vàng bạc ngọc ngà hạt trai, sãn phẩm quí đồi lấy tiền đồng của ngươời Hoa cổ. Trước đó chính bà Lữ Hậu vợ vua Thái Tổ nhà Hán là Lưu Bang đã ra lệnh cấm bán, đổi chác tiền đồng cho dân Giao Chỉ.

Riêng Mã Viện, từ khi thắng Trưng Vương, biết dân Giao Chỉ coi trống đồng như là một linh vật giữ nước. Mã-Viện, có kinh nghiệm về việc Trưng Vương ra trận dùng trống đồng thúc quân, thấỵ uy lực trống đồng của Bách Việt rất lớn, giúp họ đánh giặc rất hăng. Việc đúc ngựa, đúc? đồng trụ chỉ là cái cớ để tiêu hủy linh vật của Bách Việt mà thôi. Vậy ai dám bảo trống đồng do Mã Viện và Gia Cát Lượng đúc thì thật là xuyên tạc lịch sữ mỹ thuật Việt Nam một cách trắng trợn.

Nhân đây xin kể một trường hợp xuyên tạc, bình gốm Hoa Lam cổ, trưng bày ở viện bảo tàng Istambul, cách đây trên 50 năm Tàu và Nhựt tìm xem có thể là của họ không. Nhưng đến khi thấy niên hiệu ghi trên bình là niên hiệu vua Việt “Thái-hòa bát niên…, Bùi Thị Hi bút” (xem hình),? ngươời Hoa bèn bảo đó là “.của một ông thầy Tàu qua Việt Nam chơi, làm để lại..”? Vào Thời kỳ đó người ta hoàn toàn chưa biết Việt Nam đã có lò gốm hoa lam rất sớm từ thế kỷ 12, 13 với màu xanh bản địa chứ không nhập cảng màu xanh tươi của Ba-Tư như Trung-Hoa.

Phải mất 30 năm sau, khi khảo cổ học Việt Nam tìm thấy dấu tích nhiều lò nung gốm cổ hoa lam trên đất Bắc từ thế kỷ 12, 13 cùng những sãn phẩm phế thải của lò và những gốm Việt Nam cổ có hoa văn giống hoa văn trên độc bình ở Istambul, mới chứng minh đích thực bình cổ danh tiếng ở bảo tàng viện Istambul là của Việt Nam do một phụ nữ là Bùi Thị Hi trang trí.

Vả lại dân Mông-Cổ là dân sống bằng săn-bắn và du mục. Do đó họ không thể nào là những người đã phát sinh ra nền văn-hóa nông nghiệp. Và như thế họ cũng chẵng bao giờ có họ hàng và cần thiết có họ hàng với các ông Thần-Nông (người tài giỏi về làm ruộng), bà Nữ-Oa “đội đá vá trời” (tức là người tìm hiểu và kinh nghiệm nhiều về thời tiết giúp nhà nông làm ruộng).

Dân du mục phải thường xuyên chống chọi với thú rừng, cũng như chống chọi với các đoàn du-mục khác, họ phải đấu tranh không ngừng. Vì thế họ là một chủng tộc mạnh, tài nghệ bắn cung, cưởi ngựa, đô vật, đâm chém của họ rất cao. Chính nhờ vào tài nghệ nầy mà họ đã thành công trong việc chiếm lục địa Trung-hoa và chiếm Việt Nam sau nầy.

Giòng máu du mục buộc họ luôn sẵn sàng chiến đấu, từ đó nảy sinh giòng máu xâm lăng. Vả lại khí trời miền bắc lạnh, nên bản chất họ rất khỏe, và rất sợ khí nóng ở miền nhiệt đới nông nghiệp mà họ coi là nơi âm phong chương khí. Cũng vì lý do đó, người Trung-Hoa gốc Mông cổ không thể có các vị vua Thần nông “vua trồng-trọt xứ nóng” tức là vua Viêm Ðê٬ cần thiết của nhà nông. Dân Bách-Việt hiền lành ở miền Nam lo nghề nông, không quen đánh giặc bị họ chiếm hết đất đai và văn hóa.

Suốt trên hai nghìn năm chúng ta hầu như chỉ học cho biết rằng Việt Cổ là một đất nước vô văn-hóa, man di, được nhờ Tàu Mông cổ khai hóa. Dầu rằng Tàu gốc Mông cổ không chứng minh được văn hóa tiền sữ của họ. Như thế đủ thấy ảnh hưỡng của việc bị đô hộ Tàu, kể cả Tây sau nầy, là nguy hiểm như thế nào!

Chính vì vậy mà LM Triết-Gia Kim-Ðịnh đã gia-công nghiên-cứu một triết-lý An-Việt và nói đến “.một nền văn hóa Việt-Nam cổ mồ côi. “. Nhưng văn-hóa tiền-sử Việt-Nam đã bị che dấu và cướp đoạt vì sức mạnh, chứ nhất thiết không hẳn là một văn hóa mồ côi. Văn-hóa Việt cổ có mẹ đẻ từ các nền văn hóa tiền sữ Việt Nam, và đã sinh đứa con khổng lồ là nền văn-hóa siêu-việt Trung-QuốcﮠChính văn-hóa Trung-Quốc lúc không nhận là con đẻ của văn-hóa Bách-Việt, là một văn-hóa mồ côi. Lúc Tưỡng-Giới-Thạch ra lệnh nghiên cứu về văn hóa Trung-Hoa từ ngày nay trở về trước. Nhưng khi lên đến nhà Hán và thời Khổng-Tữ, các nghiên cứu gia Trung-Hoa Dân-Quốc đành bỏ dở vì vấp phải văn hóa Bách-Việt!.

Với thực dân Pháp, trong vòng gần 80 năm đô hộ Việt Nam, chúng ta nhìn thấy biết bao tài sãn của nước ta Pháp đã đem về xây dựng đất nước họ, làm giàu Viện Bảo Tàng của họ (nào đàn-đábáu vật hiếm quí, nào 4 quyển sách trước tác của cụ Nguyễn Du vv. và vv. Pháp cướp về nước tất. Tương lai gần chúng ta nhất định phải đòi lại tài sãn bị cướp, đòi bồi thường và đòi Pháp phải xin lổi dân tộc Việt Nam)

Trong thời gian bị thực dân Pháp đô-hộ, việc khảo-cổ trên đất nước ta chỉ dành độc quyền cho người Pháp. Chuyên gia và khảo cổ gia Việt-Nam có đóng góp công lao ý kiến cũng không được ghi lại. Người Pháp mà tiêu biểu là ông H. Mansuy đã có những phán đoán sai lạc, lập luận lầm lẩn về văn hóa mỹ thuật tiền sữ và lịch sữ Việt Nam. Trước những khám phá về văn hóa tiền sữ và lịch sữ Việt Nam, ông ta luôn có thành kiến rằng, bao nhiêu nền văn hóa xa xưa của Việt-Nam cổ từ thời tiền sữ vốn chỉ là “.hàng nhập cảng.”.. “.hàng vay mượn., .hàng thiên di vv…của phương Bắc hay phương Tây. ” !

Từ trước, với phong cách thực dân khi Ông H. Mansuy khi nhìn thấy những viên gạch lót nền nhà cổ có hoa văn đẹp (xem hình gạch lót nhà có hoa văn), đào lên từ lòng đất, đã nói rằng: “Ðây là gạch nhập cảng để làm bàn thờ chứ không thể lót nền nhà” 34;

Gạch cổ Việt Nam Gạch lát nhà Hưng Đạo Vương ở Vạn Kiếp

Ngày nay chúng ta đã tìm thấy nhiều lò gạch cổ sãn xuất gạch có khắc hoa văn ở Bắc Hà, và đã đào được nền nhà lót gạch có hoa văn thời nhà Trần, ví dụ nền nhà có lót gạch hoa văn của Hưng Ðạo Vương tại Vạn Kiếp. Và các nhà học giả về khảo cổ học khắp thế giới và Việt Nam đã chứng minh về tính chất bản địa của những nền văn hóa tiền sữ xưa nhất và phát triển nhất trên đất nước Việt Nam mà đặc biệt là văn hóa Hòa Bình với sự ra đời sớm nhất thế giới của nông nghiệp lúa nước cũng như các nền văn hóa lịch sữ sau nầy.

Có những người Việt Nam mà đại diện là ông Nguyễn Văn Tốt đã đọc sách tây thực dân, sao chép lại nguyên văn làm sách, mặc dầu thế giới đã cải chính trước đó rất lâu. Ông Trần Văn Tốt đã theo đúng luận điệu thực dân của H. Mansuy mà viết sai lạc về văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn rằng: “Người Hoà-Bình có mặt trên đất nước Việt-Nam vào khoảng từ 5000 đến 3000 trước TC… coi như chưa biết gì về nông nghiệp và chăn nuôi, không biết gì gốm .. “… “Ðá mài đã có vào thời Bắc-Sơn, nhưng ít được xử dụng. “; “… nghệ thuật đá mài có vai rất tiêu biểu cho văn-hóa tộc họ Auxtro asiatique, được dùng nhiều ở miền Trung Ðông Dương. Người ta đã cho là những rìu mài nầy đươc nhập cảng từ Tây-Tạng, Giang Nam bên Tàu, vì chúng nó cũng có ở Hoa-Nam, ấn-Dộ, Nhật-Bổn, Ðại-Hàn… “; … “và những dụng cụ đá mài hình dĩa là của văn-hóa Úc từ Tàu truyền xuống vv. “

Than ôi! thật vô cùng đáng trách ! ông Tốt đã sao chép lại y-nguyên những lập luận lầm lạc và vội vàng và đầy dẩy thành kiến đầu tiên của ông Mansuy mà bỏ qua mọi chứng minh khoa học xác đáng và mới mẻ hơn của các ông C.O. Sauer và W.G. Solheim, không biết với mục đích gì ?. Như thế phải chăng ông Tốt đã vô tình hay cố ý làm tay sai cho thực dân lổi thời mà thế giới đã lên án !

Ông Tốt đã theo đuôi thực dân đưa ra một thứ suy luận hàm hồ, vì hể cứ thấy nơi nào có, thì tất là “.nhập cảng của nơi đo?;”, bất chấp cả thời gian nơi nào có trước, nơi nào có sau, và bất chấp cả nơi nào có tính cách sãn xuất nghiệp vụ và nơi nào có tính cách tiêu thụ. Vậy thì ông Tốt viết sách về văn-hóa tiền sữ Việt-Nam, phải chăng để tìm cách dìm dập thóa mạ tổ tiên mình hay là để nối giáo cho giặc.

 

4.Nhà học giả Sauer Hoa-Kỳ đã viết trong quyển Ðồng-Quê:

“Ðúng là nông nghiệp đã tiến triển qua 2 giai đoạn, mà giai đoạn đầu là giai đoạn của văn-hóa Hòa-Bình, lúa nước đã được trồng cùng một lúc với củ môn nước (khoai sọ) “.

Ðến nay tất cả các nhà khảo cổ học, sữ học Hoa-kỳ như các ông C. Sauwer, R. Somhein, Trương Quang Trực (Ông Trực là người Mỹ gốc Trung-hoa), ông Jorhman và học-giả Liên-Xô ông N. Vavilow đều công nhận:

“Ðông-Nam-Á mà chủ đạo là Việt-Nam đã có một nền văn hóa tiền sử phát triển rất sớm sủa, tiên-tiến và nhanh chóng, sáng tạo và sống động chưa từng thấy một nơi nào khác trên thế-giới.”

Chúng ta hãy nghe mấy dòng sôi nổi của ông C.O. Sauer viết trong quyển Agricultural Origins and Dispersals – Xuất bản ở New York:

“Tôi đã chứng minh Ðông-Nam-Á là cái nôi của nền nông nghiệp xưa nhất. Và tôi cũng chứng minh rằng văn-hóa nông nghiệp có nguồn gốc gắn liền với đánh cá bằng lưới ở xứ naỳ. Tôi cũng chứng minh rằng những động vật gia súc xưa nhất bắt nguồn từ Ðông-Nam-Á, và đây là trung tâm quan trọng của thế-ygiới về kỷ thuật trồng trọt và cải biến cây cối bằng cách tái sinh sản thực vật “.

Trước đây người ta vẩn ca tụng địa điểm văn-minh tân thạch khí ở vùng Tây-Á Tiểu-Á và cho rằng đây là một xứ nông-nghiệp xưa nhất thế-giới. Vì đã có những niên đại C14 lên đến thiên niên kỷ thứ VI, thứ VII. Việc phát hiện ra nền nông-nghiệp tại Hòa-Bình cách đây trên 10.000 năm đã làm cho thế giới rung chuyển, chao động.

Như vậy trung tâm nông-nghiệp xưa nhất không còn là vùng Lưởng Hà mà là Ðông-Nam-Á mà chủ đạo là Việt-nam. Việt-Nam đóng vai trò quan trọng nhất vì nơi đây là điểm phát xuất chính.

Chúng ta hãy nghe lời bình luận xác đáng của ông W. G. SOLHEIM II đã viết từ năm 1967″Tôi cho rằng khi chúng ta nghiên-cứu lại nhiều cứ liệu ở lục-địa Ðông-Nam-Á, chúng ta hoàn toàn có thể phát giác ra rằng việc thuần-thục-hóa cây trồng đầu tiên trên thế-giới đã được dân-cư Hòa-Bình (Việt Nam) hoàn thành vào khoảng 10.000 năm trước TC…. “

“…Rằng văn-hóa Hòa-Bình là văn-hóa bản-địa không hề chịu ảnh-hưởng của bên ngoài, đưa tới văn-hóa Bắc-Sơn (Việt Nam)… “

“… Rằng miền Bắc và miền Trung lục địa Ðông-Nam-Á có những văn-hóa tiến bộ mà trong đó đã có sự phát triển của dụng cụ đá mài láng đầu tiên của Châu-Á, nếu không nói là đầu tiên trên thế giới và đồ gốm đã được phát? minh…”

“…Rằng không phải là sự thuần hóa thựt vật đầu tiên như ông Sauer đã gợi ý và chứng minh mà thôi. Mà còn đi xa hơn, nơi đây đã cung cấp tư-tuỡng về nông nghiệp cho phương Tây. Và sau nầy một số cây đã được truyền đến Ấn-Ðộ và Phi-Châu. Và Ðông-Nam-Á còn tiếp tục là một khu-vực tiền-tiến ở Viển-Ðông cho đến khi Trung-Quốc thay thế xung lực này vào nữa đầu thiên niên kỷ thứ 2 tr TC tức khoảng 1500 tr TC.” (Nữa đầu thiên niên kỷ thứ 2 tr TC tức khoảng 1500 sau khi Mông-Cổ chiếm lục địa Trung-Hoa non 1500 năm.)

Như đã nói trên, Trung-quốc thừa hưỡng văn hóa nông nghiệp phát triển nhờ dân Bách Việt còn lại trên hoa lục. Chính nhờ sự phát triển của những sắc dân Bách Việt nầy mà Trung quốc rộng lớn có đủ tư cách thay thế xung lực phát triển nông nghiệp Ðông Nam Á vào khoảng năm 1500 tr TC. Như vậy chứng tỏ chính dân Bách Việt? tức Việt cổ dạy Tàu nông nghiệp chứ không phải ngược lại như Trần Trọng Kim đã viết trong Việt Nam Sữ Lược.

Chúng ta phải xúc động trước những lập luận rất vô tư, công bằng và rất khoa-học của Solheim II, cũng như rất xúc động trước nắm gạo bị cháy dở hóa thạch đã tìm thấy ở Ðồng-Ðậu Vỉnh-Phú có niên đại 5.500 năm trước TC tức cách đây 7.500 năm (C14). Nắm gạo cháy dở của thời phát trịển trồng lúa nước nầy cũng chứng minh cho chúng ta rằng lúa nước đã được trồng từ rất lâu không ai biết được trước lúc nắm gạo bị cháy như ông Sauer đã cho rằng lúa nước đi đôi với nghề đánh cá.

Những sự kiện trên đây đã được công bố lên thế-giới từ lâu. Với C.O.Sauer chẳng hạﮬ trong quyển “Agricultural Orgins and Dispersals, New-York- 1952 “, với Wilhelm G. Solheim trong quyển “Southeast Asia and the West. Science vol. 157, 1967, p.899 “. Ít nhất là trước thời gian mà ông Trần Văn Tốt xuất bản quyển ? Introduction à l?art? ancien du Việt-Nam ? bằng tiếng Pháp năm 1969. Chúng tôi nói ngay mặt ông Trần Văn Tốt rằng một trong các văn-hoá tiền sữ Việt Nam, văn hóa Hòa-Bình của Việt Nam không phải là đứa con nuôi, con vay mượn, con hoang, hay con mồ côi, nó chính là con đẻ của văn-hóa Sơn-vi kéo dài từ rất xa xưa có thể lên đến 500.000 năm đến 25.000 năm tr TC. Thường người ta lấy một niên đại tượng trưng gần nhầt là 30.000 năm làm mốc trung gian. Và để tiếp tục cuộc đời, văn hóa Hòa Bình đã dẩn đưa nhanh chóng đến một nền văn-hóa nổi danh thế giới của Việt Nam là văn-hóa Bắc-Sơn. Và từ văn-hóa Bắc-Sơn đến các nền văn hóa Quỳnh Văn, Bầu Tró, Hoa Lạc, Phùng Nguyên, Gò Mun, Ðồng Ðậu và cuối cùng là Ðông-Sơn.

Sự liên tục của các nền văn hóa luôn được duy trì bằng những chứng minh cụ thể. Thật vậy các nền văn-hóa Việt-Nam cổ ngày càng được tìm thấy là có những bước tiến mạnh mẽ, những nét phát triển huy-hoàng. Mãi cho đến thời Bắc-thuộc lần thứ I thì, văn hóa Ðông Sơn nước ta, bắt nguồn từ thời tiền sữ, bị ngưng hẳn.

Chính giặc Mông-Cổ là những người đã xâm lăng các nền văn hóa tiền sữ và sơ sữ Việt cổ từ trên đất Trung Nguyên cho đến Việt Nam. Họ lấy hết cả, vừa đất đai, vừa công trình, vừa công cụ, vừa con người, vừa những người thợ tài giỏi Việt cổ đem về Tàu để phát triển nên nền văn hoá siêu-việt của Trung-Hoa sau này.

Ðồng thời cướp lấy, họ phá hoại, họ cấm cản mọi sự phát triển văn hóa địa phương của kẻ bị trị : trong suốt non 1000 năm đô hộ, họ đã cố tâm cướp đoạt, hủy hoại, cấm đoán, dìm dập và dấu diếm tất cả mọi vết tích, mọi hình thức phát triển của văn-hóa lịch-sữ Việt-Nam.? Lòng đất đã được phơi bày mọi sự thât. Chính sách vở và các học giả Trung Hoa hiên-đại cũng đã nhìn nhận những sự thật trên.

Văn-hóa Việt-Nam bị tê liệt, bị biến mất do xâm lăng và cướp giựt của Trung-quốc. 1000 năm quá dài, con cháu không được truyền đạt, nên dần dà người Việt-nam tự cho là mình đã được người Tàu khai hóa như các sữ gia Trần Trọng Kim và Ðào duy Anh nói trên, thật là hổ thẹn với tiền nhân thay!!

Từ rất sớm, năm 1932, tại Ðại Hội Nghị Quốc tế của các nhà khảo cổ tiền sử học Viển đông, vấn đề văn-hóa Hòa-Bình nước ta đã được xác nhận một cách chính đáng. Vấn đề thự tiển là nền văn hóa Hòa-Bình có mặt trên toàn thế giới. Nhưng điều quan trọng ở đây là nền văn-hóa nầy đã được tìm thấy ở Việt-Nam sớm hơn đâu cả, nghĩa là có trước những nơi khá trên thế giới và tìm thấy ở Hòa-Bình một làng nhỏ Việt Nam, ở vào một thời gian xa xưa nhất (cách đây trên 16.000) đối với các nơi khác trên thế-giới.

Ðiều nầy có nghĩa là người Việt cổ tại Hòa-Bình Việt Nam đã có làm nên nền văn-hóa Hòa-Bình trước nhất trong nhân loại. Nói một cách khác, người Hòa-Bình trên đất Việt-Nam đã có một thời văn minh xưa nhất thế-giới, đó là sự thật mà khoa khảo cổ học thế giới minh chứng và xác quyết. Thế nên khảo cổ học thế-giới đã lấy tên của một làng quê Hoà-Bình Bắc-Việt đặt tên cho nền văn-hóa nầy gọi là văn-hóa Hòa-Bình cho toàn thế giới (xem Encyclopédie d’Archéologie).

Thế là Hòa Bình tại Việt-nam đã được coi là trung tâm văn minh tiền sữ đầu tiên của nhân loại về nông nghiệp lúa nước và về công nghiệp đá. Chẳng những nền văn minh tiền sữ nầy ngang hàng với Trung Mỹ và miền Lưỡng Hà về phương diện kỷ thuật. Một điểm rất đáng hảnh diện là “Hòa Bình đã được thế giới xác nhận là trung tâm phát minh nông nghiệp và sãn xuất nông nghiệp cùng chăn nuôi gia súc đầu tiên trên thế giới. “.? Trung tâm nông nghiêp cùng chăn nuôi đầu tiên trên thế giới tại Hoà Bình Việt Nam đã có trước vùng Lưỡng Hà đến 3000 năm. Như vậy thì còn điểm nào nghi ngờ rằng nơi nào “nhập cảng” nơi nào!.

Hòa-Bình, trung tâm văn-minh nông nghiệp đầu tiên của nhân loại trên thế-giới, để rồi từ đó nền văn-minh trên được lan tràn khắp vùng Ðông-Nam-Á: Trung-Quốc, Nhựt-Bản, Mả-Lai, Thái-Lan, Ấn-Ðộ v v..? Mà ở Hòa-Bình là nơi sầm uất, giàu thinh hơn đâu hết và đã có vị vua Viêm Ðế (vua nóng tượng trưng cho mùa trồng trọt), Thần-nông là người đã nghiên cứu dạy nghề nông và được tôn sùng như một vị vua, và có bà Nữ-Oa là người đã nghiên cứu thời tiết nắng mưa, cùng các ngày lể, ngày Tết phù hợp với mùa màng và sự nghỉ ngơi của người nông dân sau khi mùa đã thâu hoạch. Bà Nữ Oa đã nghiên cứu thời tiết lúc gieo, lúc cấy, lúc gặt, mà dạy dân làm ruộng không thất mùa. Vì thế dân gian coi bà Nữ-Oa như một vị thần-linh có khả năng ” lấy đá vá trời “.

Văn hóa tiền sữ nước ta đã thu hút thế giới vào văn-hóa Hòa-Bình. Một trung tâm kinh tế sản xuất đầu tiên trên thế giới. Một trung tâm kỹ nghệ đá đầu tiên của nhân loại, trước rất xa văn hóa Lưỡng-Hà và Trung-Mỷ (Mexico hiện tại) đến cả 3 thiên niên kỷ. Bước tiến này nhảy vọt mạnh với văn hóa Hòa Bình, có lẻ một phần cũng nhờ ở biến cố thiên-nhiên là trận Ðại Hồng Thủy thế giới đã xẩy ra thời văn hóa Hòa Bình (sẽ nói rõ sau). Nói chung đó chỉ là một suy luận, nhưng thật chất là đã có sự phát triển liên tục và rõ ràng từ văn hóa Sơn-vi đến Hòa-Bình.

Tiềm lực của văn-hóa Hòa-Bình là càng ngày càng đưa con người thích nghi nhu cầu sự sống với một cố gắng như là một cuộc cách mạng. Ðó là cuộc cách-mạng sinh-sống bằng kỷ-nghệ sãn xuất công-cụ để bán đi khắp nơi cho thợ đá. Và dụng-cụ nông nghiệp đá cho người dùng. Với nhu cầu sãn xuất nông nghiệp mới nầy, tất nhiên kỷ-nghệ đồ đá phải phát triển. Văn hóa Hòa Bình là văn hóa đá giữa, nên nó có một ảnh hưởng sâu rộng về nghệ thuật đá mới. Vì chính nơi đây, Hòa Bình, trên đất nước Việt cổ, là điểm phát xuất ra nhũng nền văn hoá thuộc nền cách mạng đá mới của các nước Trung-quốc, Nhật-Bản, Philippine, Indonêsia, Mã-đảo và cả miền Ðịa Trung-Hải vv. Chính vì vậy, Việt-Nam chính là trung tâm cách mạng sản-xuất đá mới đã được thế giới khẳng định.

Có rất nhiều tầng văn hóa của các nước trên thế giới thuộc văn hóa Hòa-bình nhưng trẻ trung hơn, tức ra đời sau hơn nhiều, so với Hòa Bình, đã được nghiên cứu đến và đều được qui về văn hóa Hòa Bình. Thế giới đã khẵng định rằng trong những nền văn hóa ấy không hề có thuật chế tạo đá sỏi như ở Việt Nam.

Thời gian, thời tiết và mưa nắng đã làm tan vở rồi bào mòn và tẩy sạch những tãng đá lớn. Hạt nhân đá còn lại có độ cứn rất cao gọi là đá-sỏi hay đá-cuội. Chế tạo những hòn đá cứng nầy rất khó khăn. Nhưng người ta cần những rìu đá, búa đá, dao đá bằng đá-sỏi mới có thể sãn xuất ra những rìu, búa, dao, cày đá bằng đá tãnng mềm hơn cho người nông dân.?

Ghè đẻo trên đá sỏi cứng rất khó, nhưng rất cần thiết. Vì những công cụ bằng đá sỏi cứng dùng để chế ra các công cụ đá tảng dễ dành hơn. Chỉ ở Hòa Bình mới có nghệ thuật chế tác đá sỏi cứng, với số lượng rất cao, dùng để bán đi khắp nơi cho thợ đá chế tạo những dụng cụ bằng đá.

Thợ đá dùng công cụ đá sỏi cứng của Hoà Bình mà chế tác các dụng cụ nông nghiệp đá tảng mềm hơn đá sỏi. Khắp nơi trên địc cầu có rất nhiều học trò về chế tạo đá của các bậc thầy đá Hoà Bình Việt Nam. Ðiều nầy chứng minh rõ ràng là chỉ trong nền văn-hóa Hòa-bình tại Việt-nam mới có việc sãn xuất công cụ đá cứng cho người thợ đá xữ dụng như là dụng cụ chế tạo đá.

Vậy còn ai hoài nghi Hoà-bình không phải là trung-tâm đẻ ra nghiệp vụ đá cho nhiều quốc-gia trên thế-giới. Văn-hóa Hòa-Bình là một nền Văn-hóa cách mạng ra đời trước văn-hóa Bắc-Sơn, và như trên đã nói, lẻ dỉ nhiên trước Ðông-Sơn rất lâu, ít nhất đến cả từ 6.000 đến 8.000 năm.

Và chính Hòa Bình là mẹ đẻ ra nền văn hóa nổi danh Bắc Sơn và sau nầy là văn hóa Ðông Sơn rực rở huy hoàng. Văn hóa Ðông Sơn kéo dài cho tới khi Tàu qua chiếm nước ta lần đầu tiên thì ngừng hẳn. Ðiều nầy chứng minh rõ ràng Tàu đã đến cướp mất, phá hoại, cấm chỉ sự phát triển văn hóa của nước Việt cổ. Rõ ràng cũng nhờ cướp bóc lỏi cốt văn hoá Bách Việt cộng với sự giàu mạnh của cải và quân lực mà văn hóa Trung Hoa tiến nhanh sau nầy.

Trưng Vương là người Việt là một người đàn bà đã dành được độc lập cho Việt Nam đầu tiên trong thời gian rất ngắn ngủi (xem hình theo sữ Tàu).? Tuy nhiên con số 3 năm là do Tàu xuyên tạc và buộc dân Việt phải nghe theo, ai nói khác là bị tội. Sữ gia Trần Trọng Kim cứ dựa theo đó mà sao chép lại mà thôi, như trường hợp của Trần Văn Tốt? nói trên.

Sự thật là nguyên bà Trần Thi Ðoan là một nữ tướng, vợ của quan lạc tướng Trương Man Thiện ở đất? Mê-linh, giòng dỏi Hùng Vương. Vợ chồng ông Man Thiện, song thân 2 chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị (tên thật là Trương Nhất và Trương Nhì. Trước mắt chúng ta nhất nhì là chữ Hán. Nhưng tên hai bà Trưng cho chúng ta thấy rất có thể chữ hán có nguồn gốc trong chữ bách việt, rồi sau đó trở lại chữ Việt có nguồn? trong chữ Hán. Chẵng khác nào chữ Anh có nguồn gốc trong chữ Pháp hay La-Tinh, rồi chữ Pháp và La-Tinh lại có nguồn gốc từ chữ Anh ngày nay) đặt bản doanh ở đất Phong Châu nơi mà văn hóa Ðông Sơn vẩn âm thầm tồn tại, cùng hai con gái nổi lên chống Tàu từ? nhiều chục năm về trước. Chồng mất sớm, bà Man Thiện cùng 2 con thay quyền (xem hình chụp sách Hậu Hán Thư).

Nguyên từ trước gia đình bà Man Thiện Trần Thị Ðoan có mối thù truyền kiếp với gia đình Ðặng Thi Sách là người rất hùng dũng, giòng dỏi Sơn Tinh ở làng Chu diên, giòng giỏi nầy cũng chống Tàu. Bà Man Thiện bèn tìm kế cởi bỏ hận thù để liên minh chống giặc. Bà đặt con gái trưỡng là Trưng Trắc làm thống soái. Rồi cho Trưng Trắc kết duyên với Thi Sách để cùng liên minh. Khi lâm trận Thi Sách bị giết, Trưng Trắc một mình phải thống lảnh luôn? 2 đạo quân của mình và của chồng nên thanh thế bà rất mạnh, nơi nơi đều lần lượt đến hợp tác.

Vì thế nếu chúng ta cứ gọi Trưng Trắc đánh Tàu là vì thù chồng là sai lầm trầm trọng và oan cho một vị nữ anh hùng Việt Nam. Bà Trưng cùng mẹ chống Tàu từ thuở còn niên thiếu vào những năm 20,22 sau TC. Ðến năm 30 sau TC, tuy còn trẻ bà qui tụ được nhiều anh hùng nam nữ. Trong thời gian dấy nghiệp, và trong phạm vi cai trị của bà Man Thiện Trần Thị đoan, văn hóa Ðông Sơn đã có phần phục hưng khá mạnh. Chính dân quân của bà Man Thiện, rồi đến sau là của Trưng Vương tự rèn lấy gươm dáo, tự đúc lấy trống đồng mà dùng và đem tiếp tế cho những bộ tộc Bách Việt khác theo bà. Ðó cũng là lý do khiến các bộ tộc Bách Việt đều kính nể và qui về một mối với Trưng Vương.

Nền văn hóa Ðông Sơn dưới thời Trưng vương tuy âm thầm và ngắn ngủi nhưng tính ra có đến trên 100 năm, vì nó tiềm ẩn trong rừng sâu núi cao. Nền văn hóa nầy được gọi là nền văn hóa Ðông-sơn-phục-hưng. Ðiều nầy cũng chứng minh trong mọi hoàn cảnh tiềm lực nghệ thuật của người Bách Việt mang một tính chất bất khuất, nhân gian và liên tục. Âu đây cũng là đức tính mà Trưng Vương đã truyền lại cho con cháu vùng Hà Tĩnh Nghệ An và sau nầy truyền đến Quãng Bình, Quãng Trị Thừa Thiên vv. vậy.

Về sau lúc có độc lập dài lâu, văn hóa thời Lý, Trần cũng đã dần dần chổi dậy, nhưng so với văn hóa Ðông Sơn thì còn kém xa. Như thế thì thấy nạn xâm lăng tai hại cho văn hóa dân tộc biết bao!

Thật vậy, nhờ vào khảo cổ học mà mọi bí ẩn của tiền sữ đã được làm sáng tỏ. Và thế giới đã công nhận Việt Nam, tiêu biểu là văn hóa Hoà Bình mà tên tuổi đã được “thế-giới-hóa” (Encyclopédie d’Archéologie), đã được thế giới xác nhận là nơi có một nền nông nghiệp lúa nước và công nghiệp đá xưa nhất thế giới.

Có thể vì văn hóa Hòa Bình nằm vào thời điểm của trận Ðại-hồng-thủy cách đây từ 17.000 năm đến 6.000. Cuộc Ðại Hồng Thủy nầy bao gồm cả thế giới, theo đó chắc nó ăn khớp và trùng hợp với cuộc Ðại Hồng Thủy đã được diễn tả trong Cựu Kinh Ước của đạo Do Thái và Ðạo Công Giáo. Vì vậy theo khoa học, rỏ ràng trước và sau Ðại Hồng Thủy loài người đã có mặt thậm lâu trên miền Ðông Nam Á, mà quan trọng là tại Việt Nam.

Sau vụ đại hồng thủy nầy, nơi trên thế giới nguy hại nhiều nhất, chính là Lục Ðịa Ðông Nam Á. Vì một phần đất lớn của miền nầy đã sụp xuống biễn, mở rộng thêm Thái-bình-dương. Xét theo thềm lục địa Ðông Nam Á, các nhà khảo cổ nhận thấy Ðại Hồng Thủy lên và lui rất chậm chạp, vì thế không xẩy ra tai nạn chết ngừơi tập thể.

Và như vậy số người đã sống trên bình nguyên Ðông Nam Á củ mà nay là biển đã di tản nguyên vẹn ra khắp các lục địa Ðông Nam Á, và Úc Châu còn lại. Có lẻ đó là lý do chính của sự hổn hợp nhiều chủng tộc trên miền Ðông Nam Á.

Phần đất còn sót lại sau Ðại-hồng-thủy trở nên quá ít đối với số dân sống bằng hái lượm trước kia. Do đó vấn đề cần thiết cho sự sinh sống của người Ðông Nam Á mà trong đó người Bách Việt cổ là căn bản là đi tìm thức? ăn. Người Bách Việt cổ đã di tản lên chốn cao nguyên tức là lục địa Bách Việt cổ mà nay là miền Nam Trung Hoa và đồng bằng Bắc Việt và thẵng đến miền duyên hải Trung Việt (vùng Quãng Trị Quãng-Hóa tức là Thừa-Thiên).

Người Việt cổ bắt buộc phải nghỉ đến cách làm tăng số lượng thực phẩm cần thiết để sinh sống mà trước đây họ chỉ cần tìm thấy dễ dàng trong thiên-nhiên. Ðây có lẻ là nguyên nhân phát triển nghề nông của các chủng người đã di tản đến Ðông Nam Á mà chủ yếu là Việt Nam cổ.

Trên đây tôi đã dẩn những cứ liệu lịch sữ về văn hóa Hòa Bình với mục đích xóa tan những luận điệu và nhận xét sai lạc của thực dân Tây và Tàu; đồng thời cũng để trình bày một cách tương đối sơ lượt, một khía cạnh nào đó sự nghiệp lớn lao của tổ tiên chúng ta: hiện tại thế giới đã công nhận rằng nước Việt Nam chúng ta đã có một nền nông nghiệp lúa nước và một nền công nghiệp đá đã từng phát triển rực rở và xưa nhất thế giới.

Vậy mà bao nhiêu trăm năm nay đất nước chúng ta phải trãi qua biết bao gian truân, đói khó, xâm lăng, huynh đệ tương tàn. Ðến nổi con cháu mờ mịt cả mắt mủi không còn thấy gì về tiền nhân, không còn biết gì đến công lao tổ tiên. Ðồng thời con cháu cũng đã để ngoại bang hiểu lầm về sự nghiệp của các Vị. Vậy mà hiện tại người dân Việt phải đói khổ, phải nghèo nàn, phải đau thương, phải chậm tiến một cách man rợ. Thật là một điều vô cùng tủi nhục cho thân phận con người Việt Nam.

Thôi thì, tục ngữ ta vốn có câu “Mấy ai giàu ba họ, mấy ai khó ba đời”. Ngày xưa vinh thì ngày nay nhục vậy. Ðối với Trung Hoa hay ít lắm là với Nhật Bãn, Ðại Hàn, Thái Lan, Ðài Loan… Việt Nam tệ lắm là ở địa vị ngang hàng, chúng ta trở thành thua kém xa vời thì nổi nhục ấy quả nhiên là lớn lao. Chúng ta lại phải di tản sống lưu vong trong nhiều quốc gia có những nền văn minh khoa học và xã hội vượt bực.

Vậy, chúng ta chỉ còn cầu mong hết nhục ắc sẽ có ngày vinh quang. Chúng ta hãy đầy lòng tin tưỡng cho ngày mai. Sau cơn sáng trời lại mưa, thì ắc sau cơn mưa trời lại sáng. Chúng ta phải tin tưỡng như vậy. Chúng ta sẽ không tự mãn hả hê trước những thành tựu về học hành thi cử hay nghề nghiệp của con em trên đất khách. Vì đó chỉ là chuyện đương nhiên, mà trái lại chúng ta phải tự kiểm điểm những thiếu sót, những mất mát lớn lao cho thế hệ trẻ về phương diện văn hóa dân tộc.

Chúng ta phải có bổn phận vun trồng mầm móng văn hóa Bách Việt nước nhà lên lòng non dân tộc hãi ngoại. Ðó tất nhiên phải là điều khó khăn, chúng ta có thể bỏ công lao mồ hôi nước mắt, nghị lực thời gian làm việc hữu ích cho hậu duệ chúng ta; hơn làngày đêm ganh tương tị hiềm, kình địch, châm biến, chia rẽ, đua nhau bịa đặt bôi nhọ kẻ nào có gì hơn mình chút đỉnh. Những hành đông đó chẵng những đãbiến dần dân lưu vong thành một sắc dân mất gốc vô văn hóa, vô tổ tiên, mà còn biến một số người Việt đông đúc kém cỏi về kiến thức văn hóa Việt Nam (mặc dầu có khoa bản, bằng cấp ngoại quốc cao, hay tiền bạc nhiều) lưu vong thành man di đúng như suy luận của người Trung-Hoa.

Các các dân tộc khác như Trung-hoa, Nhật-bãn, Do-Thái…; họ mang tinh thần đoàn kết với nhau bảo tồn và xây dựng lại nền văn hóa dân tộc đi tiền phong khó khăn vất vả cho đến đạt mục đích thiết thực và họ đã thành công huy hoàng. Các dân tộc ấy là những tấm gương sáng giúp chúng ta trong nổ lực làm phát triển văn minh tinh thần tức văn hóa truyền thống của tổ tiên Việt.

Niềm tin sẽ trở nên hiện thực hay không trong một ngày mai hậu gần gủi cũng do ở những hành động sâu ẩn trong mối ưu tư văn hóa dân tộc của mổi một người trong chúng ta.? Ðể cầu chúc cho bước tiến văn hóa ở tương lai gần của dân Việt , chúng tôi xin kính hiếu chút tình cảm lên trước bao công trình của tổ tiên chúng ta suốt từ thời tiền sữ đến nay. Chúng tôi xin mượn câu nói của nhà văn hào Jean Valery:?

“Hởi tâm hồn cao cả, đã đến lúc mà Người cần được mặc

chiếc áo xinh đẹp xứng đáng với cơ thể của người.” ?

 anviettoancau.net

http://www.nguyenthaihocfoundation.org/lichsuVN/nguocgoc_ttnp4.htm

20.“HOÀN KIẾM”

QN

1. Lại thêm một lần tôi trở về Hà Nội mùa cuối Đông.
Một buổi chiều tôi đi bộ bên Hồ Hoàn Kiếm!. Hồ gươm vẫn đẹp! Công viên ghế đá ven hồ, những thảm cỏ xanh, nhiều cây cổ thụ cao, rợp bóng mát. Gió chiều nhè nhẹ. Nhiều người thanh thản đi bộ hoặc ngồi hóng mát nhìn …mặt hồ. Tôi nhìn Tháp bút “tả thanh thiên”, Cầu Thê Húc, Đền Ngọc Sơn, nơi ấy có trưng bày Cụ Rùa hơn 700 năm tuổi nằm trong hòm kính, gắn liền với tên hồ, tháp Rùa và truyền thuyết Lê Lợi trả gươm cho thần Kim Quy. Một truyền thuyết xưa hình ảnh như còn lung linh, gợi tấm lòng sắt son ngàn đời dân – nước…

“ Sách Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi chép:
Khi ấy Nhà-vua cùng người ở trại Mục-sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường làm nghề quăng chài. Ở xứ vực Ma-viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, cá chẳng được gì cả. Chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ (ngày chết của cha mẹ), nhà vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhà vua bèn hỏi:
– Sắt nào đây?
Thận nói:
– Đêm trước quăng chài bắt được.
Nhà vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ “Thuận Thiên”, cùng chữ “Lợi”.
Lại một hôm, nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài-dũa thành hình, nhà vua lạy trời khấn rằng:
– Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!
Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, thành ra một chiếc gươm hoàn chỉnh.
Tới hôm sau, lúc đêm, trời gió mưa, sớm ngày mai, hoàng hậu ra trông vườn cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, vào gọi nhà vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận Thiên (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ Lợi. Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra.
Truyền thuyết kể tiếp rằng, sau Lê Lợi dùng thanh gươm báu đó làm gươm chiến đấu, xông pha chém địch nhiều trận, cuối cùng đuổi được quân Minh, lên làm vua
Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Thủy Quân. Ra giữa hồ, có Rùa Vàng nổi lên mặt nước, chắn trước thuyền của vua gọi to:
– Xin nhà vua hãy hoàn lại gươm thần cho Long Vương!
Lê Thái Tổ rút gươm trả, rùa vàng ngậm lấy gươm lặn xuống nước đi mất. Từ đó hồ Thủy Quân được đặt tên là hồ Hoàn Kiếm”.

2. Một chuổi lịch sử đất nước và dòng đời, thân phận con người, xã hội như hiện về!. “Tâm linh soi lẽ vô thường”! “ Hoàn Kiếm”!. Vì sao cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi? Vì sao nhà Vua“ hoàn lại gươm thần cho Long Vương!”. Rùa Thần đòi “hoàn kiếm”!?.
Xưa, Rùa Thần “dâng gươm”!
“Dâng Gươm” phải chăng là nhân dân đã xả thân, dâng hiến, hy sinh tất cả để chống quân thù xâm lược, giữ nước, bảo vệ Tổ Quốc giang san ngàn đời cha ông để lại, làm chủ ruộng cày, làm chủ giang sơn!?. “Dâng Gươm” là ý dân, lòng dân, sức dân đã tin -” Lê Lợi vi Quân; Nguyễn Trãi vi Thần”;Là “Thuận Thiên”- thuận ý dân, tuân ý trời…!; ” Lấy chí nhân thay cường bạo”, giành lại quyền tự chủ, độc lập tự do cho tổ quốc;” Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập; Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên hùng cứ một phương”;

“Từng nghe:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;….”
“Vưà rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thưà cơ gây loạn
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trờị
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc,
Ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,
Khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng,
Máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất,
Chân tay nào phục dịch cho vừa ?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lòng người đều căm giận,
Trời đất chẳng dung tha;”

( Bình Ngô Đại Cáo- Ngô tất Tố dịch).

“Dân vi quý”! Dân vạn đại. Dân là biển cả, Long Vương; Là đất, là nước, là tổ quốc, giang san; là bờ tre, đồng lúa, thửa ruộng, ao điền, đình làng, giếng nước; là trí, là dũng, là nhân; là đức hy sinh, dâng hiến,vì ngàn xưa gìn giữ, lưu truyền ngàn đời con cháu mai sau…

. -“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạọ”; -“Đánh một trận, sạch không kình ngạc, Đánh hai trận tan tác chim muông”…

Cuộc kháng chiến 10 năm thắng lợi!. Đất nước sạch bóng quân thù.
Lê Lợi đã “vi quân”; Nguyễn Trãi đã “vi Thần”.
Mặt hồ Lục Thủy sóng êm. Đáy hồ bùn tanh nhơ nhớp. Rùa Vàng rẽ sóng:
– “Xin nhà vua hãy hoàn lại gươm thần cho Long Vương!”.
Rùa Thần đòi gươm. Nhân dân đòi lại “Gươm Thần”. “Thuận Thiên”, Vua Lê “ Hoàn Kiếm”!

3.Hoàn Kiếm” đã thành tên hồ nắm giữa trung tâm thủ đô. “Hồ Gươm”, “Hoàn Kiếm”, trái tim của nước, tên gọi như luôn nhắc nhở kẻ nhận “Gươm Thần” hoàn kiếm, phải luôn “Hoàn Kiếm”!.. Dân là Nước.” Đầy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”!…Khi Tổ quốc lâm nguy, Dân trao “gươm thần”, đồng tâm “đáp lời sông núi”;Khi đất nước thái bình, quyền dân bị xâm phạm, bị tước đoạt, đói khổ, điêu linh. Dân đứng lên đòi lại quyền sống, quyền làm người, làm chủ vận nước, mệnh nhà!
Sống có đạo lý, phải “Thuận Thiên”!

– “Xin nhà vua hãy hoàn lại gươm thần cho Long Vương!”.
Lời Rùa Thần “đòi gươm” bây giờ như đang còn âm vang, dậy sóng…..
“Hoàn Kiếm”, Phải ‘Hoàn Kiếm”!

“…”

Nhìn mặt hồ Hoàn Kiếm bồi hồi huyền bóng linh xưa!
QN