GIAI  PHẨM XUÂN BÍNH THÂN-2016  SƯ PHẠM ÁO NÂU ĐÀ LẠT

Chúc mừng Xuân mới

xuan 2013

Chúc gia đình SƯ PHM ÁO NÂU và tt c bn đc năm mi Xuân Bính Thân-2016

SC KHE, BÌNH AN, DÂN CH, T DO, HNH PHÚC!

VIỆT NAM VIỆT NAM!

 MỤC LỤC

1.Ý XUÂN HQ

2.Chỉ Một Con Đường Thanh Quang

3.Cánh Hoa Trải Gót Xuân NK

4.Hiện tại, Bây giờ  QN

5.An Lạc Thơ Việt Trang

6.Nguyện sống sáng đẹp đời.NK

7.Đường Chim Lạc Mùa Xuân   Thơ Phan Lạc Dân

8.Chân Thường cuộc sống con người!QN

9.Bông hoa dâng Mẹ   Thơ Phan Lạc Dân

10.Sống vui cuộc sống bình thường HQ

11.Nắng Hoàng Quang Thanh Quang

12.Câu chuyện Cuộc Sống Con Người Từ Tâm  Phạm Mai Hương

13.Tự do-Cuộc Sống Con Người   QN

14.Cuộc Sống Con Người Yêu Thương ! Tố Tâm

15.Vận  mệnh đất nước và con người Thích Đạt Ma Phổ Giác

16.Chuyện nước trong nhà Tản văn Nguyễn Ngọc Tư

17.Tóc Mẹ và Mây Chiều   Thơ Phan Lạc Dân

18.Tuổi Thu   NK

19.Hoài Linh Vũ

 20.Con Người-Cuộc Sống, tình người mãi thắm xanh…. Tố Tâm

21.Đà Lạt Bây giờ   Hoài Linh Vũ

22.Tản mạn Đà Lạt đã mất Thiên Chánh

23. Tích hợp môn lịch sử sẽ là một thảm họa khôn lường! PGS-TS Phạm Quốc Sử   

24.Tuấn Khanh: Tôi vẫn tự hỏi ‘Tổ quốc là gì?’

 25.Nghĩ về thái độ đối với các nhân vật lịch sử     Trần Văn Chánh               

26 .Ngàn Trước Tới Ngàn Sau Nguyễn Xuân Nghĩa

27.Một chút tâm tình Người ÁO NÂU Nguyễn Kiệt

28. Hình ảnh văn hóa Tết xưa (TNTsưu tầm)

YÊU SAO  HOA MAI ANH ĐÀO

Nguyễn Quang Nhàn

 

1.Ý XUÂN!

Hoa QuyNhững con mưa và gió lạnh cuối Đông tràn về, cái lạnh của non nước, cái lạnh vắng của tâm hồn con người trước cuộc sống con người xã hội, nước non làm cái lạnh như lạnh hơn…Nắng Xuân vừa mới chớm! Ánh sáng Tâm linh của Con Người Cuộc sống trong xã hội đất nước nhiều khổ đau vẫn sáng lên niềm tin- Niềm tin Con người Cuộc sống-Cuộc sống Con người như Mặt Trời hằng sáng! Có Sự Sáng sẽ có Sự Sống! Duyên sinh Con Người Cuộc sống- Cuộc sống Con Người với muôn duyên. Ai có Tâm duyên Ý ngời sẽ có cuộc sống Từ Tâm- Từ Tâm Tâm Sáng, Tâm Sáng Sáng Tâm! Tâm Sáng –Tâm Phật -Trong Sáng, Sáng Trong vô cùng…

Hoa Mai Anh Đào đã ươm những nụ hồng ửng trong nắng vàng sớm! Tâm Con Người hiền với cuộc sống con người, xã hội, non nước cũng dường như thắm ánh nắng vàng sáng trong cuộc sống con người Thế giới vạn thành! Khổ đau vẫn còn nhiều, cái ác, gian, tham, ái , dục… vẫn đang còn đầy dẫy, muốn thống trị thế giới, dằng xéo cuộc sống con người hiền nhưng thế giới hiền vẫn luôn luôn là thế giới hiền. Con người sống trong thế giới hiền-tự do dân chủ, bình đẳng, yêu thương Sống Sáng bằng Tâm, Trí, Lực đang cuộn thúc , xây dựng một Thế giới Hiền- Con Người nhân loại Thiện Tâm. Tiếng nói Đạo pháp đang ngời lên trong Cuộc sống Thế giới chống cái Ác, chống chiến tranh bá đạo. Câu mở đầu trong hiến chương của Tổ chức UNESCO phản ảnh rõ rệt lời dạy thật sâu sắc của Đức Phật qua câu thứ nhất trong kinh Pháp Cú “ Chiến tranh phát sinh bên trong tâm thức con người.Vì thế khả năng bảo vệ hòa bình, cũng phải được vun xới từ bên trong tâm thức con người.” UNESCO (1&2).Thế giới là Thế giới Cuộc sống Con Người. Thế giới là Thế giới Tâm. Tâm là Tất Cả! Tâm là Tâm thế giới, ngời ngời Tâm Hoa Nghiêm hằng sống, hằng sáng…

Dalat xuanCon Người Cuộc Sống- Cuộc Sống Con Người đang vươn lên vũ trụ thế giới bao la rộng mở, và cũng đi sâu vào cái vô cùng nhỏ bé, vi diệu mà mắt con người không thấy được. Cuộc sống Con người với nhân duyên thời đại đã là Một. Thế giới là Một. -Một là Tất Cả! Con Người-Thế giới; Thế giới – Con Người! Tất cả là Tâm! Con Người Cuộc Sống- Cuộc Sống Con Người, hãy Sống- Sống với cuộc sống tương duyên, tương tức – tương nhập,Tâm Bình Đẳng! Có Người Có Ta, Có Ta có Người! Hãy sống với Con Người, Yêu thương Con Người- Cuộc Sống! Có cuộc sống của Người mới có cuộc sống của Ta! Thế giới là Thế giới Cuộc Sống Con Người yêu thương ! Không có Con Người ta sẽ sống với ai!? Cái Thiện luôn luôn thắng Cái Ác. Thiện, Ác trong Tâm mỗi Con Người nhưng luôn luôn chuyển hóa! Con Người ai cũng có Tâm Như Lai! Thế giới là Sự Sống, Sự Sáng. Không có Sự Sáng sẽ không có Sự Sống! Sự Sống-Sự Sáng tất cả là cuộc sống Tâm Con Người….Tâm là Tất Cả, Tâm Như Lai, Tâm Hoa Nghiêm! Hãy Vui Yêu Thương với Cuộc sống Con Người Yêu Thương….

Cuộc sống duyên sinh vẫn ngời ngời! Ánh Nắng Mai vẫn ngời ngời muôn ngàn sắc! Giọt mồ hôi, vị mặn của đời, Tâm Ý Lực của mỗi con người dường như vẫn luôn thắm đẹp như những đóa hoa, những đóa hoa đời vô giá! Hãy sống đẹp như những đóa hoa, muôn ngàn hoa trong vườn đời cuộc sống. Đồng tiền chỉ là phương tiện cuộc sống của con người trong xã hội. Tiền không phải là tất cả! Tiền có thể đẻ ra Quyền-Quyền lực, quyền lợi nhưng nó cũng từ Tham, Ái Dục…mà ra, chính nó trói buộc con người, làm cho Tâm con người mê loạn, tăm tối; nó tạo nghiệp, “Khổ não bước theo sau, Như xe, chân vật kéo”!(3) Hãy nhìn lại lịch sử non nước, muôn nhà, thế giới…, không có quyền lực nào tồn tại mãi mãi; không có cái ác nào mà không bị diệt; không có gì tồn tại mãi trong cuộc sống vô thường này…

Con Người là Tất cả! Con Người là Đóa Hoa đời kỳ diệu! Hãy sống vui, sống đẹp, sống ngời như ngàn hoa! Muôn Hoa sống sáng đẹp như Cuộc Sống Con Người Yêu thương!

Muôn hoa đất trời Đà Lạt như ngời dưới ánh nắng Mai đang chờ Xuân mới! Muôn màu xanh cuộc sống, những chồi non, lộc biếc như đang chào mừng Nắng Xuân, Ý Xuân Vui!

——-

  • Kinh Pháp cú và hiến chương UNESCO. Hoàng Phong http://thuvienhoasen.org/a22339/kinh-phap-cu-va-hien-chuong-unesco
  • Ngày 15-12-1999, tại phiên họp thứ 54 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, sau khi thảo luận Đề mục 174 của chương trình nghị sự, Đại hội đồng đã biểu quyết chính thức thừa nhận và đứng ra tổ chức Đại lễ Phật đản hay còn gọi là đại lễ Tam hợp (kỷ niệm ba ngày đức Phật Đản sinh, Thành đạo và Nhập niết-bàn, thời gian tương đương với tháng 5 dương lịch) http://thuvienhoasen.org/p69a19068/1/lich-su-vesak-lhq
  • Kinh Pháp Cú

2.Chỉ một con đường

Thanh Quang

Chi mot con duong1.Em,

a Xuân lại một lần nữa trôi qua

Mùa Xuân đã đánh dấu mối tình đôi ta…

Ngày quê hương ngưng tiếng súng

Con đường chắc sẽ nở hoa

Ngày Nắng Mai Vàng hương ngát lời ca…

*

Việt Nam hôm nay

Tâm Hoa Đạo Pháp

Dân chủ đã khơi dòng

Ta bước qua dòng sông

Tự Quay về dòng Sống Sáng Chân Thường

Bước về Hà Nội

Bước qua tăm tối

Đứng lên cùng Thế giới…

-Cả cuộc đời này ta đi mãi không thôi…

2.Em,

Những mùa Xuân ta sống trong yên lặng

Nén trái tim để cùng sống cuộc sống âm thầm

Lời hẹn thề ta vẫn khắc trong Tâm

Dòng ngày tháng, ta mong …dòng ngày tháng…

-Em

Hãy vui

Lời Yêu thương

Dù rất nhỏ

Để lòng ta tỉnh lặng

Cho thương nhớ mênh mông

Cho đôi tâm hồn Hoa thắm

Tỏa ngát hương

*

4.-Người ơi!

Ngày mai

Con Người-Cuộc sống sẽ vui…

Đừng chia thời gian

Để ngày tháng khỏi phủ phàng…

Nhanh lên nhé!

Tình yêu ta vời vợi,

Mãi  nhớ thương…

Ngày Mai,

Ch một con đường...

3.Cánh Hoa Trải Gót Xuân

NK

MAD DL 3Muôn loài đón mừng Xuân! Xuân là nhân cũng vừa là quả của Tình Yêu Cuộc Sống- Thế Giới Con Người. Đón mừng năm mới, tĩnh tâm soi chiếu Tâm Xuân!

Mai Anh Đào đã nở những cánh hoa hồng thắm trong nắng xuân. Trời ĐàLạt như bừng sáng ngàn sắc hoa trong nắng mai như tâm hồn con người Đà Lạt tâm dịu hiền ửng sáng trong nắng mai hồng Ánh sáng Mặt trời thanh khiết ửng sáng lên tình yêu thương sáng soi cõi đời, cuộc sống con người những niềm vui, yêu thương dịu dàng!

Ngày Xuân, mùa Xuân, tại gia Xuân như thêm nồng thắm, Các Con cháu, anh chị em mặc quần áo đẹp, môi nở nụ cười xuân cùng nhau tựu về mừng tuổi mẹ cha, nhớ về nguồn cội, dâng những nén hương Tâm dâng lên Tiên Tổ, Chư Phật, Bồ Tát…nguyện sống sáng với tình yêu thương trong cuộc sống con người trong chuỗi Cuộc sống Từ Sinh, nguyện cầu bình an cuộc sống Gia đình- Gia tộc- Xã hội- Thế giới, gìn giữ trong sáng đức ân thâm tình mối dây thiêng liêng Từ Sinh giữa cõi đời.

Xuân đời tươi sáng đẹp đời sống sáng như ánh sáng Mặt Trời. Sự Sống là Sự Sáng. Xuân tâm kính hương sen thanh khiết, những bàn tay nắm những bàn tay, như những đóa hoa Hồng Vàng lớn nhỏ truyền nụ sống, nụ thắm nồng ấm hương tình, gìn giữ chuỗi Tâm Hoa Hiền Thường Chân trong cuộc sống Chân Thường, nguyện sống sáng, trọn nghĩa tình thâm, tình thiêng liêng cốt nhục, sáng tâm Hiếu Đạo Kết Tràng Liên Hoa.

Tình Xuân ơi! Tâm Hoa Đời Đạo Chân Thường chưa bao giờ cách xa, những cánh Hoa Xuân bốn mùa vẫn luôn đón từng gót hồng, nối dòng sáng sống yêu thương trắng ngần như đóa Sen Tâm . Con cháu đang yêu và được yêu thương, được luôn đan kết mối Dây Thiêng Liêng từ sinh Đạo Hạnh nghĩa Mẹ, tình Cha. Trong dòng sáng sống Chân Thường, từ đóa Hoa Tâm nở, mỗi người như nhận rõ hơn   Con đường đạo Yêu thương Cứu khổ- Trí Huệ!

Trí Huệ là Cha; Yêu thương Cứu khổ là Mẹ; Con là Tình Yêu thương Nhiệm mầu của Mẹ, Của Cha. Con, Cháu Sống là Thương yêu-Yêu thương,Yêu Cha, Yêu Mẹ, yêu Tổ Tông đường ,nguyên đi vào đời cuộc sống con người Sống Sáng Đạo Ngời, tương duyên, bình đẳng, cứu người, giúp đời, Từ, Bi, Hỷ Xã….

Xuân đến, Đà Lạt ngàn hoa như đang nở thêm nhiều nụ thắm, yêu người như yêu ánh sáng Mặt Trời Xuân!

4.hiện tại, bây giờ

hoa hong 1Sống là sống trong hiện tại, bây giờ! Bây giờ là hiện tại, hiện tại cuộc sống con người trong nhân duyên cuộc sống con người sống với con người, sống với xã hội, đất nước, thế giới. Duyên sinh cuộc sống con người, ai cũng thuộc một chủng loài, dân tộc với những văn hóa, tập quán, ngôn ngữ cuộc sống khác nhau nhưng lại giống nhau vì là cuộc sống con người, nhân loại.
Hiện tại-bây giờ là  cái đang là, trong nhịp sống vô thường, đang là!   Dòng thời gian đang đi qua từng sát na, từng khoảnh khắc trong ý nghĩ, từng hơi thở cuộc sống , trong dòng cuộc sống muôn loài, con người, cuộc sống, xã hội và cả dân tộc, đất nước. Con Người Sống Biết là Sống Biết trong hiện tại- bây giờ, nếu không Sống Biết trong hiện tại- bây giờ thì con người cũng không thể Sống Biết cuộc sống Con Người, Dân tộc, xã hội, đất nước đã đi qua! Dòng sống đó của cuộc sống con người trên trái đất vũ trụ này, đó là dòng thời gian, là dòng sống luôn chuyển hóa Ánh Sáng, Bóng tối …. và luôn luôn đi về dòng Ánh Sáng. Có đi qua và rồi,  sẽ nhìn lại! Dòng thời gian ấy luôn sống với cuộc sống mỗi con người, có vậy, con người mới tự thấy mình lớn lên, thấy minh trưởng thành, rồi già đi… Mỗi bước lớn lên, trưởng thành, từ trong hiện tại-bây giờ con người ai cũng đều nhớ lại chuổi ngày qua của mình và nhân duyên cuộc sống của mình trong từng chuổi nhân duyên cuộc sống mình đã đi qua, rồi con người  tự thấy, sống  với cuộc sống  hiện tại- bây giờ, rồi lại bước tiếp trong dòng cuộc sống- con người, xã hội để đi đến tương lai….
Sống trong hiện tại- bây giờ, bây giờ-hiện tại có cả con người  sống  có cả quá khứ và cả tương lai, nếu không có quá khứ trong cuộc sống hiện tại -bây giờ con người sẽ không tự biết mình!  Là Con Người Việt Nam sống trong hiện tại- bây giờ là sống với cả quá khứ hơn 4.000 năm của dòng Sử Việt, trong đó có cả ngàn năm Bắc thuộc, cả những ngày đau thương mất nước, cả những niềm tự hào dân tộc qua các triều đại dựng nên nền độc lập của dân tộc –Ngô, Đinh, Lý, Trần, Lê   ….với những trận chiến công hiển hách để chống lại mọi đạo quân xâm lược, cướp nước của các triều đại Phong Kiến Phương Bắc ….Bao lớp người đã ngã xuống, trong những dòng máu đó, trong mỗi cuộc sống con người xưa đều đang chảy, đang sống trong mỗi con người Việt  hiện nay, không ai là không có… Trong đó có  tất cả dòng sống nhân duyên-nhân quả  Cuộc sống Con Người Việt Nam tự ngàn xưa đến nay…
Sống trong hiện tại- bây giờ cũng là  sống với tất cả cuộc sống con người thế giới của hàng ngàn năm qua của nhân loại để cho ta cuộc sống bây giờ, cho ta  những phương tiện, cuộc sống sống với con người, nhân loại, thế giới…,cả  cơm ăn, áo mặc, nhà ở, phương tiện đi lại, các tiện nghi vật chất, các giá trị tinh thần, Tâm linh, rồi  các giá trị phương tiện truyền thông nối kết mỗi tâm hồn con người cuộc sống …mà mỗi cú ấn tay, nhấp chuột  là  ta đã nối với cả thế giới;  và cả dòng tâm ý của ta, cả trong từng ý nghĩ, dòng tâm ý đang là  mà ta đang sống  cùng với  tất cả nhân duyên cuộc sống con người- xã hội -thế giới trong dòng  lịch sử  đã hun đúc, vun trồng cho ta cuộc sống hiện tại…Đó là văn hóa, là lịch sử, là tri thức, khoa học, kỹ thuật, văn học-nghệ thuật, tư tưởng, triết học, cuộc sống Tâm linh…; là bản sắc của mỗi sắc tộc, mỗi  dân tộc, đất nước…. góp vào vườn hoa nhân hóa muôn màu, muôn sắc nhân loại, thế giới…..Tự phủ nhận hoặc hủy diệt đi từng màu sắc là đi ngược lại cuộc sống con người nhân loại, phủ nhận chính mình…
Duyên sinh cuộc sống con người, ai cũng sống, lớn lên từ đất!  Sự Sống là Sự Sáng! Không có Ánh Sáng không có Sự Sống!  Sống trong hiện tại- bây giờ, Chân Thường cuộc sống, ta đừng phụ công ơn của những người đi trước- Không  có trước sẽ không có sau! Con Người sống là sống với muôn duyên trong nhân duyên cuộc sống con người-xã hội-thế giới. Ai cũng đều sống, lớn lên trong cuộc sống của mỗi gia đình, dòng tộc, xã hội, dân tộc, đất nước … Sống với muôn duyên nhưng mỗi  người là mỗi  người. Một là Tất Cả! Sống vẫn luôn là Sống với –tương duyên! Nếu  Con người chỉ sống cho riêng mình,  không biết quá khứ -lịch sử – sẽ không có  hướng sống, sự sống  của tương lai, sẽ không có dòng Tâm sáng sống trong cuộc sống  vô thường này, sẽ không biết đi đâu về đâu; là đã phụ rẩy Công Cha, Nghĩa Mẹ, Tổ Tiên, Chân Thường Cuộc sống- Con người xã hội, đất nước, nhân loại  dù sống trong hiện tại  nhưng  đã vô ơn với tất cả….
Tất cả là hiện tại-bây giờ!  Hãy sống bằng dòng Tâm sống sáng Chân Thường, trân quý, giữ gìn, sống với muôn đời trước, ngàn đời sau! Tất cả những dòng Tâm tăm tối, thế lực ngu si, đi ngược dòng sống con người-xã hội, thế giới nhân loại…không bao giờ là mãi mãi….
QN

5.Nguyện sống sáng đẹp đời

       Trang &Hoa  “Xuân về, một đóa Tâm Hoa vừa mới nở, Ân Đức Tiên Tổ, đấng sinh thành, Đàn con về với Mẹ Cha. Tâm Hồn con dịu dàng hướng thiện, thuận hòa nhân ái, sẽ chia. Hạnh hành thiện hiền, Hiếu Đạo dựng đời, chúng con nguyện sống sáng cuộc sống tại gia, nguyện sống sáng đẹp đời cho Liên Hoa nở thắm Đất Trời Hoa Tâm!”

Xuân về trong niệm thương, niệm nhớ vị tình cha. Hương ngời ý, ánh sáng lung linh rạng rỡ tình Xuân. Mùa Xuân lịch sử vang vọng sơn hà yêu thương ! Cha gọi đàn con bằng những cái Tên tâm tánh tình “Kiệt- Quyền- Giản…”,danh những vị Anh Hùng yêu nước thương dân hơn cả bản thân. Cuộc sống tha hương nhớ hoài chốn quê chôn nhau cắt rốn, bạn thầy, sông nước. Cha gọi tên con “Điền, Cần, Thơ”. Tình phu thê chung thủy, thủy chung, ghép tên chồng vợ thành tên con dựng đời hạnh “Phúc- Phú Vực”. Hoài bảo, yêu thương Con đi trải cánh hoa Chân cho Xuân đời thắm tình Chân Thường- Thường Chân.

Mẹ là muôn ngàn ánh sáng chan chứa hạnh phúc thấm ngập thân xác tâm hồn con. Mẹ ban cho con nhận Biết nhiệm mầu của yêu thương là tất cả.

Nghĩ về mẹ lòng con dịu dàng an trú trong tình yêu bao la của mẹ. Mẹ trong tâm hồn con ngày càng rộng lớn bao la cùng khắp đất trời thiên nhiên sông núi, Tổ quốc quê hương, tình người … Mẹ luôn và mãi bên con trong từng bước chân ngày tháng lớn khôn thành người. Niềm hạnh phúc bao la của cuộc đời con là con có Mẹ, Cha con là tình yêu của mẹ, con là máu thịt, là tâm hồn là cuộc sống của Mẹ Cha.

Mẹ Cha cả cuộc đời lương thiện, tất cả vì chúng con. Yêu thương sinh thành dưỡng dục, cơm áo, học vấn, làm ăn, dựng vợ gã chồng, an vui hạnh phúc của đàn cháu con… Sự sống là mãi mãi. Tình Mẹ Cha nâng bước đàn con trên đường đời tấm lòng Hiếu Đạo. Mẹ ơi, Mẹ Cha là sự sống, là quê hương, đất nước, là tình người trên vạn nẻo đời. Mỗi người chỉ một Mẹ thôi, muôn người đồng tâm một tình Mẹ.

Nghĩ về đấng sinh thành, con được sống trong dòng sống yêu thương từ buổi ban đầu nhân duyên tình yêu của Mẹ Cha, của ngày tháng Mẹ mang nặng đứa con trong dạ, của đớn đau hòa nước mắt hạnh phúc thời khắc “Khai hoa nở nhụy”. Mẹ ơi! Tâm hồn thế nhân đồng hân hoan chia sẻ niềm vui từ sinh Sự Sống muôn đời…. Ánh sáng hạnh phúc, yêu thương lan vào tình thân tộc nội ngoại, bạn bè, gia đình – gia tộc – xã hội… Thế gian giàu đẹp vì thế gian có Mẹ có Cha. Có Con, có Cháu….Như muôn hoa cuộc sống đời luôn luôn nở hoa duyên sinh mãi mãi cho đời niềm vui thương yêu…

Mẹ Cha là mạch sống Ân Đức thiết tha, tiếp dòng Ân Đức Cửu Huyền Thất Tổ… Ân Cha Mẹ muôn đời trưởng dưỡng tâm hồn chúng con sống sáng Đạo lý Làm Người. Mẹ Cha là ánh thái dương, là mắt, là tai, là tay, là chân, là tâm , là ý dẫn dắt, khuyến tấn con trên con đường sống sáng mưu cầu hạnh phúc thoát khổ cho mình và cuộc sống con người, xã hội. Mẹ là bầu trời, là bóng mây, là dòng suối mát trong, là lời ru, là ánh trăng của trời đêm lung linh huyền diệu …Cha là con đường sáng sống cuộc sống nhân duyên Chân Thường.

Xuân về, một đóa Tâm Hoa vừa mới nở, Ân Đức Tiên Tổ, đấng sinh thành, Đàn con về với Mẹ Cha. Tâm Hồn con dịu dàng hướng thiện, thuận hòa nhân ái, sẽ chia. Hạnh hành thiện hiền, Hiếu Đạo dựng đời, chúng con nguyện sống sáng cuộc sống tại gia, nguyện sống sáng đẹp đời cho Liên Hoa nở thắm Đất Trời Hoa Tâm!

TỐ TÂM

6.  AN LẠC

Thơ Việt Trang

 AN LẠC

Nơi này cây cỏ đều an lạc
Đá tự hồng hoang mãi lặng thầm
Ánh sáng kim cương, đời ngọc bích
Hồn nương giác mộng sạch trần tâm

hoa sen vang

ÂN TỨ

Hoa quý không chê mảnh đất nghèo
Thiên nhiên tình nghĩa đẹp bao nhiêu
Nước non thanh tú thay ngà ngọc
Trăng gió huyền mơ đẩy bọt bèo

Hạ nóng thu về thêm mát mẻ
Đông buồn xuân lại bớt gieo neo
Cỏ cây sách đá vui làm bạn
Hương đạo hương đời mạch sống reo.

ĐỨC MINH

Kính tặng thầy Nguyễn Đức Minh lúc cơ hàn bên phố Duy Tân

 Rõ ghét tình đời , nghĩ lại thương
Biển dâu ờ nhỉ chuyện vô thường
Ngày xưa thầy gõ đầu con trẻ
Hiện tại anh làm bạn bút gương

Chữ nghĩa thấy toàn rồng với rắn
Văn chương nghe đậm sắc và hương
Tóc ai phơi trắng bên hè phố
Cứ ngỡ tơ trời đọng khói sương

Việt Trang 

7.ĐƯỜNG CHIM LẠC MÙA XUÂN

 Phan Lạc Dân

Kết quả hình ảnh cho đường chim lạc

Chim Lạc hỡi! Ta mơ mùa xuân tới

  Bóng chim thần nhập gió Thái Bình Dương

Chim hãy hát để ta trào nước mắt

Việt Nam! Việt Nam! Thương quá là thương…”

Hỡi loài chim ngàn năm bay mải miết

Thương bay đi rồi lại nhớ bay về

Ngàn năm xưa…ngàn năm sau nối tiếp

Đêm trăng này mình kể cho nhau nghe…

          …Mẹ Âu Cơ đứt ruột tiễn con đi

          Đêm phương nam chập chờn sông thắp lửa

Tiếng ru buồn lênh đênh ngàn xứ sở

Thắng ma thiêng dựng ngược mớ râu hùm.

Chim đảo khắp đồng Chăm, thăm ruộng Mạ

Túp Cà Tu, nương Thái, rú Ê Đê…

Chào Trường Sơn đăm đăm nhìn biển cả

Đôi cánh chim thiêng ủ bóng câu thề.

          Chim trở lại dấu kinh thành Trần Lý

          Vén rêu dày hưng phế mộng Đinh Lê

         Hỏi đá núi mài gươm bao thế kỷ

          Còn bao nhiêu lâu nữa – xuân về?!

Còn bao nhiêu lâu nữa xuân về?!

Câu hỏi lớn mấy ngàn năm lệ ứa

Câu hỏi lớn cháy lòng bao thế hệ

Mấy ngàn năm lòng mẹ quặn tơ vương…

          Chưa kịp hát mừng tuổi son con gái

          Tóc đuôi gà nơm nớp hẹn mười thương

          Mẹ đã khóc chôn em trong uất nhục

         Dấu nanh thù bẩn thúi đất quê hương.

Đêm vong nô cây cỏ cũng đoạn trường

Chim vỗ cánh gầm quê hương tang tóc

Thây ái quốc trải trên đường báo phục

Thưa loài người: Khí tiết giống Tiên Long.

           Nén lòng mẹ củ khoai sùng đi mót

           Ăn đi con! Mai sớm đáp đòn thù

           Nén lòng mẹ cứu thằng con bội ước

          Lang thang hoài nhà thổ lộn nhà tu!

Thương tình nàng thui thủi một đường tơ

Nặng ơn nước mấy cao xanh dằng dặc

Giờ tử chiến: lê dân xin có mặt

Rượu khải hoàn ngồi khóc, sợ em chờ…

          Nghe chim kể thời Vua Cha dựng nước

          Nước non này trai gái đẹp như thơ

          Tiếng trống đồng rền đanh như sấm động

         Lũ giặc ngoài đến chết vẫn ngờ mơ.

Chim lại kể đất này thơ mọc khắp

Rẻo vườn nghèo, trong tay nải kiếm cung

Hễ giặc nào tính đày thơ cưỡng đất

Thì nghe đây: – Trong đất có anh hùng!

          Từ đôi cánh của giống loài kiêu hãnh

Máu dân này giọt giọt nở thành hoa

Từ hạt lúa gả đồng xa bịn rịn

Chén cơm vàng thơm khổ cực ông cha.

Mẹ trao con dải non sông gấm vóc

Biển thẳm non xa lấp lánh thân rồng

Lệnh: Con cháu bốn ngàn năm có mặt

Mẹ kiểm kê từng ấn chứng cha ông!

          Chim Lạc hỡi! Ta mơ mùa xuân tới

          Bóng chim thần nhập gió Thái Bình Dương

Chim hãy hát để ta trào nước mắt

Việt Nam! Việt Nam! Thương quá là thương…

8.Chân thường cuộc sống con người!

Trang &Hoa

          Mỗi Con Người đều có một Cuộc sống- Cuộc sống để làm Người, nếu không có Cuộc sống Con người không thể sống. Cuộc sống Con người, người ta thường phân ra cuộc sống Tinh thần-Tâm linh và cuộc sống vật chất. Hai cuộc sống đó không thể tách rời nhau!  Cái thân con người ai cũng biết là duyên sinh, gỉa hợp,  tùy duyên theo luật sống Vô Thường-sinh, lão, bệnh, tử, không ai có thể sống  hoài, sống mãi, vấn đề là Sống với ai? Sống để làm gì, Sống như thế nào? Cuộc sống Tinh thần của Con Người chính là Cuộc sống TÂM-Tâm Linh, Cuộc sống ấy cũng không thể tách rời cuộc sống con Người, nên Hai mà Một !  

1.Con người Sống là Sống Với con Người, mà con người lại chính là tổng hòa muôn duyên  nhân quả-nhân duyên cuộc sống gia đình-xã hội-thế giới.

        Có Người-Có Ta. Không có Người, không có Ta! Ai sinh ra cũng có Cha, có Mẹ và sống trong cuộc sống gia đình . Từ gia đình, con người bước vào cuộc sống xã hội- từ môi trường nhỏ đến môi trường lớn, những môi trường ấy không tách rời nhau, và cả môi trường lịch sử dân tộc, xã hội đất nước, lại cả các vùng miền, và ngày nay, là cả cuộc sống thế giới.Tất cả đã là Một trong nhân duyên cuộc sống Con Người!

Con Người Sống là sống Vì Nhau, và cuộc Sống ấy cần phải tạo nên những gía trị hữu ích, làm lợi cho cuộc sống thiện lành trong  Cuộc sống Con Người- Xã hội, không để con người trở thành  con người thừa của xã hội. Thân Tâm của mỗi con người  là muôn duyên cuộc sống xã hội con người, là viên ngọc như ý trong thế giới Chân Thường Tâm Hoa Nghiêm!

Con Người ngày nay không thể tách rời nhân duyên cuộc sống Nhân loại-Thế giới. Con Người Sống với Con Người, xưa nay, cuộc sống ấy chính là Đạo lý  và mỗi xã hội đất nước, để giữ gìn  cuộc sống chung  xã hội đều cần phải có  Luật pháp.  Luật pháp do mỗi con người  trong xã hội xây dựng nên và  trên nguyên tắc Bình đẳng- Dân chủ , Tự do! Dân chủ là dân chủ bình đẳng của mỗi công dân trong cuộc sống xã hội trên cơ sở Pháp luật. Đạo lý và Luật pháp cần cho mỗi con người để mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người và quyền đầu tiên chính là Quyền Sống!

Nhân duyên  Con Người trong cuộc sống hiện nay là Con Người -Thế  Giới -Nhân Loại  ! Con người sống tách rời cuộc sống xã hội, nhân loại, sống chỉ vì mình, sống không vì người khác; chiếm quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu sự  sống của kẻ  khác chính là đi ngược quyền sống của Con Người, là  sống không có đạo lý;  và để  bảo vệ  Cuộc sống Con người , sống có đạo lý,  xã hội cần có những biện pháp để diệt  đi những cái ác, cái bất thiện để bảo vệ cuộc sống thiện lành của  con người, để mỗi Con Người Sống Vui, nở hoa trong cuộc sống! Chính từ những giá trị ấy ,Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền, Hiến Chương Liên hiệp Quốc  và  các tổ chức  của Liên hiệp Quốc đang cố gắng thực thi, bảo vệ! Đó là tổ chức Thế giới Con người Nhân loại sống với nhau trong cuộc sống Con Người –Nhân loại-Thế giới!

2. Cuộc sống Tinh thần của Con Người chính là cuộc sống Tâm linh, là cuộc sống Tâm, cuộc sống ấy  không  tách rời cuộc sống vật chất-tinh thần của Cuộc sống – Con Người  !

Trong cuộc sống, Con Người Sống Với đã tạo nên những giá trị vật chất đồng thời cũng tạo nên những giá trị tinh thần và cũng chính là tạo nên cuộc sống Đạo Tâm  của chính mình! Những giá trị vật chất ấy đều mang tính Nhân Văn, có giá trị Tinh thần, Tâm linh cuộc sống,  hướng tới Chân, Thiện, Mỹ; nó  vừa là cuộc sống đề con người có cái ăn, cái  mặc, ở, đi lại… sống với nhau trong cuộc sống vật chất ngày càng cải thiện, nâng cao , vừa tạo nên những giá trị cuộc sống Đạo Tâm trong Cuộc Sống Với và tạo nên những giá trị nhân văn, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, nghệ thuật, đời sống tinh thần,thông tin,  tư tưởng… và  trong cuộc sống  ấy, con người cũng nhận chân ra chính mình bằng cuộc sống Tâm Linh, để sống như thế nào trong cuộc sống Vô Thường, Chân -Thường cuộc sống!

Con Người Sống với Cuộc sống Đạo  Tâm Sống Sáng  sẽ tự Vươn lên Sống Sáng, sống với cuộc sống Con Người xã hội thế giới bình đẳng, tương tức- tương nhập, tạo nên cuộc sống Tâm Linh Sống Sáng của Chính mình!

3.Chân- Thường Cuộc sống Con Người! Chân là Cõi Chân, là Chân Tâm Sống Sáng của Con người trong thế giới Chân Thường Tâm Hoa Nghiêm! Thường là Cõi Thường, là Con người trong cuộc sống Thường có  Chân Tâm Sống Sáng Phật Đạo Ngời! Con Người sống trong cuộc sống Vô Thường, với Tâm  phân biệt sẽ  tạo nên cuộc sống khổ đau cho chính mình, cho cả xã hội, thế giới!

  Con Người là Thế giới! Thế giới là Con Người! Con Người là Tất cả! Tất cả vì Cuộc sống Con Người ! Chân Thường là Cuộc sống -Con Người trong xã hội thế giới ngày nay!

QN

9.Nắng Hoàng Quang

Nang Hoang Quang 1Thanh Quang

Em cười và mắt em cười

Em cười tỏa ánh Mặt Trời trong anh

Em vui như hạt nắng long lanh

Em vui đẹp ánh Mặt Trời Màu Xanh

-Màu xanh màu của Đất Trời,

Như màu xanh của biển khơi

Yêu thương Màu Xanh Cuộc sống Con Người

Sống trên mặt đất Con Người Yêu thương

Yêu thương tất cả yêu thương

Mỗi ngày thêm ánh tơ vàng

Anh vui đẹp sáng nắng vàng Tâm anh

Mai này đẹp nắng Hoàng Quang

Mai này thêm những nụ vàng nắng tươi

Vui nghe em- Đẹp mãi nụ cười!

VUI!

10.Sống vui cuộc sống bình thường

TREN DINH Fansipan

Cuộc đời Vô thường -Nhân Qủa- Nhân Duyên. Bài học Ngàn vàng –Nhân nào Qúa ấy! Luật đời, chẵng trừ ai. Đừng gieo nhân ác mà gặt quả ác! Lẽ đời vay trả, trả vay! Sự gian dối, tham ác của con người có thể dấu, có thể che con mắt thế gian trong chừng mực nào đó, tuyệt đối, không thể che dấu chính mình. Con mắt cuộc đời là con Mắt Tâm – Sáng, sáng rõ ràng, thấu suốt mọi tâm can…Tâm Sáng- Tâm Yêu thương-Trí Huệ -không ngăn ngại, bình đẳng, trong sáng-sáng trong! “Thương người, thương mình, từ tâm mà thương, từ trí mà thương, Thương là tối thượng !” Thương, đó là Tâm; Thương, đó cũng là Trí; là Tâm Sáng-Sáng Tâm!….Yêu người, thương người, yêu thương Cuộc sống- Con người, cuộc đời nhân thế!

Hãy quý nhau, yêu thương nhau…bằng cái Tâm. Cái Tâm ấy không vì mình, tất cả vì Người, Ta- Người tương tức, bình đẳng, sống sáng, vì Cuộc sống Con người Hạnh phúc An vui! Khổ đau vì cuộc đời Vô thường dâu bể, bể dâu nhưng thấu lẽ Vô thường ta sẽ luôn tinh tấn tự xây dựng cuộc đời Hạnh phúc, ta tin cái Thiện luôn thắng cái Ác, ánh sáng sẽ thắng bóng tối… Con người ai cũng có quyền làm người, có quyền mưu cầu cuộc sống, hạnh phúc, tự do, có tình yêu thương chân thật trong cuộc đời thật sống, từ tâm xuân chân thật chứ không phải là tâm băng giá, lạnh lùng với Con Người- Cuộc sống, Cuộc sống- Con người, vị kỷ, lời như bọt nước, bèo trôi… Vì Vô Thường nên con người sống trong cuộc đời là sống với con người, sống bình đẳng, tương liên, tương giao cuộc sống yêu người; tại gia sống theo nhân duyên cuộc sống tại gia, sống có đạo lý, sống vui hòa hợp trong ngoài, ngoài trong; luôn vui sống sáng tự vươn lên theo con đường Đạo sáng sống tâm ngời yêu thương!… Vì Vô thường mà ta tin là người Việt Nam ai cũng có tình yêu Tổ Quốc, yêu nước, thương nòi, yêu nhà – yêu nước, yêu người, thương dân, dù có lúc vì tham dục, vị kỷ, bè phái, bán rẻ Tổ quốc, hại người, hại nước, hại dân, làm tay sai cho giặc cướp nước….Vì Vô thường, nhân quả nhân duyên trong cuộc đời này mà con người sống là sống với, là nhân là duyên của nhau trong cuộc sống xã hội, dân tộc, đất nước, nhân loại để làm người, sống dưới ánh sáng mặt trời…, và đâu có gì là mãi mãi, là muôn năm, vạn tuế!…Vì là Vô thường nên mỗi người hãy Tự Quay về với chính mình, với Tâm Sáng-Sáng Tâm- Tâm Phật của mình để luôn Sống Sáng…

Tương lai luôn bắt đầu từ hiện tại! Tùy nhân duyên Cuộc sống Con người-xã hội hãy sống lẽ thật, trong sáng, yêu người-yêu mình, yêu nước -yêu nhà, biết sống hướng thiện, Yêu Cuộc sống Con Người, Sống Biết; đừng đeo mặt nạ để che đậy cái tâm vong bản, đừng nhân danh cái Thiện để làm việc ác, đừng nhân danh Con Người dân tộc, đất nước mà đi ngược lại Cuộc sống Con Người- Xã hội! Thấu lẽ vô thường, hãy sống vui trong cuộc sống bình thường, an vui!

Tất cả từ Tâm! Hãy là Tâm Xuân,Tâm Vui Sống vui Cuộc sống Chân Thường-  VUI! ..

         QN

11.BÔNG HOA DÂNG MẸ

* Thơ Phan Lạc Dân

Hoa sen trangXế kiếp hội phù sinh

Chưa có lấy một cành hoa dâng Mẹ

Lìa tình thương long lanh biển lệ

Con lăn mình theo bánh xe lăn

Con quăng thân vào cuộc giao tranh

Vật lộn với vô vàn sáng tối

Ôm si mê yêu mấy hoang đàng

Tia chớp lóe ngang trời Mẹ gọi

Con lại về sụp quỳ bên gối

Cầu nụ hôn dịu vợi ánh dương

Cho vết thương nơi vầng trán tối

Nở bừng đóa hoa biết ơn

Con biết Mẹ còn biển lệ

Đàn con bơi giữa long lanh!

12.CÂU CHUYỆN CUỘC SỐNG CON NGƯỜI TỪ TÂM

Phạm Mai HươngPhat Ba Quang Vuong

 Số phận nghiệt ngã

Khu điều trị ung bướu phụ khoa nằm riêng biệt trên lầu 3 khu E, bao gồm 5 phòng bệnh với chừng hơn chục giường bệnh và 2 phòng dành cho bác sĩ, y tá. Phần hành lang rộng hơn 2 mét đặt những chiếc ghế sát tường dành cho bệnh nhân, hai chiếc bàn dài để bác sĩ tư vấn điều trị.

Bệnh nhân chỉ nằm chừng 3 ngày để chuẩn bị mổ hoặc chuyền hóa chất từ 3 đến  9 ngày tùy theo phác đồ điều trị mà bác sĩ đề ra. Bệnh ung thư chữa mất nhiều thời gian nên bệnh nhân thường gặp nhau tạo thành một sự đồng cảm. Họ san sẻ kinh nghiệm chịu đựng bệnh tật, chuyện tình cảm gia, đình. Người vào đây điều trị ở giai đoạn đầu nên khuôn mặt không khắc khoải vô vọng như những khu ung bướu ở các bệnh viện khác. Họ đau lòng vì mái tóc mà họ yêu quý nhất rụng dần hơn là cơn vật vã hành bởi thuốc.

Phòng 401 chứa chừng 30 người, có một có gái chừng ngoài 20 tuổi, người  Dalat, cô  thùy mị, dễ thương hiền lành như những cô gái ở xứ hoa anh đào. Cô vừa mới lấy chồng được một tháng thì phát hiện bị bệnh nên xuống điều tri. Nằm cạnh là một cô gái trạc tuổi ở Thủ Đức, cô đang học đại học chuẩn bị ra trường nay phải xin bảo lưu điểm. Một người đàn bà chừng 60 tuổi cũng gốc Dalat, bà vừa đến tuổi nghỉ hưu chưa kịp thảnh thơi lại vướng căn bệnh quái ác này. Bà nằm giữa hai cô gái, lòng thầm xót:

-Nhìn hai đứa nhỏ mà ứa nước nước mắt, cuộc đời mình dù sao cũng đã hết. Mấy đứa còn quá nhỏ, còn phải lập gia đình rồi sinh con.

Một sáng cô gái có chồng đi ra phòng trực để lấy thuốc, một cậu thanh niên đội chiếc mũ két bước vào, ngồi ngang giường cô với vẻ tự nhiên. Người đàn bà thầm nghĩ:

-Chắc chồng cô gái.

Anh thanh niên cởi chiếc mũ ra để lộ chiếc đầu trọc. Cô gái học đại học thán phục:

-Anh này thương vợ thật. Vợ hóa trị chưa rụng tóc mà anh đã cạo đầu để chỉ không buồn vì sợ chồng chê xấu.

Anh thanh niên không nhìn mọi người, anh lôi trong túi lấy ra một tập giấy tờ giống như bệnh án. Hai người phụ nữ nhìn nhau:

-Hóa ra anh cũng bị bệnh, chắc anh từ bệnh viện ung bướu qua đây thăm.

Anh thanh niên thấy mọi người chăm chú dõi theo mình, anh nhìn lại:

-Bộ mấy người thấy tui giống con trai lắm hay sao. Tui đi hóa trị thường nằm giường này. Hôm nay tui đi tái khám.

Mọi người ngớ người nhìn nhau. Sau này mới biết cô gái ấy là một người đồng tính

TỪ BI

Một trưa,, khi bác sĩ khám bệnh xong, các bệnh nhân ngồi ờ hành lang chuyền hóa chất. Bỗng từ phiá đầu hành lang dẫn vào khu điều trị xuất hiện một nhà sư. Nhà sư cao lớn, mặc áo màu vàng, đeo đôi kính lão, chân mang đôi dép Nhật, chiếc màu đen, chiếc màu trắng. Mọi người ngưng trò chuyện dõi theo. Hình ảnh nhà sư ở bệnh viện chỉ dành cho nữ giới quả khá lạ lùng. Vị sư bình thản đi vào phòng trực và sau đó theo chân một y tá vào từng phòng bệnh. Đứng bên cạnh người bệnh, nhà sư cúi người hỏi thăm và đưa tiền giúp đỡ.

Nhà sư với chiếc áo vàng giản dị, bạc màu bỗng dưng ánh hào quang, thầy làm việc thiện lặng lẽ. Một Phật tử chắp tay: xin cho con được sám hối bởi con đã nghĩ   chẳng lẽ thầy đi thăm người đồng tu hay có vị thí chủ nào hảo tâm đến mức nhà chùa phải lưu tâm.

BÁC ÁI

Bác sĩ, y tá , hộ lý ở khu điều trị này chừng gần hai chục người. Họ làm việc lặng lẽ, ít to tiếng, cười đùa như những nơi khác. Có một nữ y tá, tuổi gần 50, khuôn mặt không đẹp nhưng thanh thoát, dáng người cô khoan thai, dù công việc dồn dập không làm cô bực tức gắt gỏng.

Trời xế chiều, người nữ y tá ấy xách hai chiếc xô, một chiếc đựng chè đậu đỏ, một  đựng đá viên, Cô đặt chếc xô trên bàn ở hành, đi ngang qua phòng bệnh lên tiếng:

-Ai ăn chè ra lấy

Người bệnh cầm chiếc ca ra đứng chờ, cô y tá từ tốn múc một muỗng đầy đậu, một muỗng nước và xúc một muỗng đá. Động tác chậm rãi cho đến người cuối cùng.

Trưa hôm sau, cô lại bưng một rỗ trái chôm chôm chia cho các người bệnh. Hóa ra cô là một nữ tu sĩ đã từng thực tập ở nhà thờ Domain De Marie Dalat vào thập niên 90 của thế kỷ trước. Ma Soeur làm công việc thiện nguyện song song với vai trò y tá, ngoài việc phân phối những món ăn để người bệnh chống lại cơn buồn nôn khủng khiếp do tác dụng hóa trị, Ma Soeur còn thay nhà thờ giúp những phần ăn miễn phí, phụ thêm tiền viện phí cho những bệnh nhân nghèo hay phải điều trị lâu ngày.. Một người phụ nữ đứng tuổi thưa với soeur:

-Thưa Soeur,  cho con gởi ít tiền mua thêm trái cây.

Soeur cười lắc đầu:

-Thôi , chị để dành mà chữa bệnh. Bệnh này còn chữa trị dài lâu.

Người thiếu phụ phân trần:

-Thưa Soeur, đây là tiền của người nhà bệnh nhân.

-Thôi, chị cứ mang về. Khi nào bệnh nhân ra viện rồi hãy gởi.

Người thiếu phụ nài nỉ:

-Nếu là tiền của một người nào đó muốn gởi . Soeur nhận giúp nghe.

Soeur gật đầu:

-Vậy thì được.

NIỀM TIN

Phía trước khu E có một khoảng đất rộng, người ta xây cao lát đá hoa cương. Chung quanh có khá nhiều cây cổ thụ khiến miếng sân mát rượi, làm nơi người nuôi bệnh ngồi nghỉ. Có một tấm bảng ghi thật rõ ràng: nơi tôn nghiêm không được nằm. Bởi phía bên phải của khoảng sân có thờ tượng Đức Bà Hoàng Thái Hậu Từ Dũ. Tượng tạc hình bán thân của bà Hoàng Thái Hậu với khuôn mặt hiền từ. Tượng đặt trên một phiên đá cao một mét,  phía trước ghi tiểu sử và công đức của Đức Bà. Bên cạnh có một thùng tiền từ thiện dành cho người nghèo và một chiếc thùng để nhang đèn.

Khoàng trống trước tượng Đức Bà không lúc nào ngớt người quỳ lạy lễ bái. Những người già cả đến cô thiếu nữ hãy còn thơ ngây, ngay cả các đấng nam nhi cũng một lòng thành kính,  cầu xin ngài giúp đỡ người thân tai qua nạn khỏi.

Trên chiếc ghế đá đặt cạnh đó có hai người phụ nữ, dáng người nông thôn Nam bộ, họ cùng đi nuôi bệnh ở khu E. Một người nói:

-Đây là tượng Đức Mẹ.

Người kia cãi:

-Không, đây là tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

Có lẽ Đức Mẹ hay Đức Quán Thế Âm Bồ Tát thị hiện ở hình ảnh bà Hoàng Thái Hậu, chính ảnh hình –Phật Bà Quang Vương xuống trần cứu người, giúp đời!

Saigon tháng 7 năm 2015

 Phạm Mai Hương

13.TỰ DO- CUỘC SỐNG CON NGƯỜI

cuoc song con nguoiCon Người Sống là Sống Với Con Người. Con Người ai cũng có một Thân Tâm, có Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Tâm Ý. Mắt để Thấy, Tai để Nghe…..để Thấy, Nghe …biết môi trường, thế giới chung quanh mình, để nhận ra con Người- Xã hội-Thế giới qua đó nhận ra chính mình, biết chính mình!

Con Người là Con Người- Xã hội, nên con người Sống là Sống với Người- sống với cuộc sống xã hội trong cuộc sống tự do, bình đẳng, yêu thương. Có Người Có Ta, có Ta có Người; Người là Ta- Ta là Người; trong Người có Ta, trong Ta có Người!

Con Người là một chủ thể tự do, tự mình quyết định cuộc sống của chính mình, nhưng Tự do của mỗi người là tự do của tất cả mọi con người! Con Người sống với nhau trong quan hệ Con Người Tự do- Bình đẳng- Yêu thương-Trí Huệ , là môi trường sống Dân chủ- Tự do !

Tư Tưởng Tự do, Bình đẳng, Yêu thương mở ra từ thời kỳ Ánh Sáng ( thế kỷ 18) với cuộc cách mạng tri trức khởi đầu bởi Galileo-Trái đất Quay chung quang Mặt Trời và Newton –Vạn vật hấp dẫn trong những cuộc khám phá về Cá nhân, Xã hội, Nhà Nước . Ánh Sáng Mặt Trời là Ánh sáng của Sự Sống-Sự Sáng, nó hợp với lẽ Duyên sinh của Nhà Phật- Thế giới Duyên Sinh …

Con Người- Cuộc sống! Cuộc sống là Cuộc sống Con Người! Với Thân-Khẩu –Ý, Con Người cần cái ăn để nuôi sống cái Thân. Ăn Cái gì? Làm gì để ăn luôn Tìm, Chọn bằng cái Tâm ÝTâm làm Chủ ; bằng cái Thân- Tai để Nghe, nhận, biết, Chân để đi, đứng, …; cái Tay để Làm và cái Miệng để ăn, nói… Sống Với Nhau nên cái Miệng- Khẩu phải có Ý, Lời, bằng Lời để nói với nhau, hợp quần cùng chung sự sống…

Cái Ăn của Con Người- xã hội gọi là Kinh Tế. Với Thân- Khẩu-Ý, con người tự tìm chọn cho mình cái ăn, cái mặc; tạo ra nguồn ăn, mặc , cho mọi người cùng có cái ăn, cái mặc và các giá trị vật chất-tinh thần, tâm linh, đạo đức …, nên để Có mọi người phải cùng nhau…và Con Người sống phải Cần Có Nhau!

Để có cuộc sống Cần Có Nhau- hợp quần xã hội, từ đó, có các giá trị về Tâm Linh, nhận thức, tư tưởng, kiến thức về cuộc sống khoa học, kỹ thuật theo nhân duyên cuộc sống con người, các thể chế Chính trị-kinh tế- văn hóa- xã hội…. Tất cả các giá trị đó đều do Con Người tạo ra….. để bảo vệ mình, tạo ra cái sống, sự sống, để sống với nhau… Con Người sẽ không có tự do, chưa phải là Con Người khi mình tước đi sự sống, quyền sống của kẻ khác. Sự tước đi ấy bằng quyền lực, bằng cái tham ái dục…đã sinh ra bất công xã hội, làm cho Con Người khổ đau mà “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. (Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ)

Con Người cuộc sống thế giới hiện nay là Con Người -Xã hội- Thế giới. Trái đất vẫn quay, Con Người với tri thức khoa học trên tất cả mọi lĩnh vực đã nối kết với nhau bằng tất cả nguồn sống tương tức-tương nhập, thậm chí đang chinh phục cả Vũ trụ, tạo ra các giá trị mới cho Cuộc sống Con Người. Thế giới ấy phát huy tất cả giá trị Tự do Cuộc Sống Con Người trên nền tảng cuộc sống Chính trị-xã hội dân chủ, bình đẳng, tự do. Với nền kinh tế toàn cầu bởi quy luật của nền kinh tế thị trường ( mang tính khách quan, khoa học), con người tác động vào nó bởi nhận thức sự vận hành hợp quy luật Sự Sống của Con người- Xã hội chứ không phải là chiếm đoạt sự sống Con Người-xã hội, bắt Con Người Nô lệ vào cái ăn để buộc trói Con Người. …

Tự do để Con Người tự Giải phóng, Tự Biết Chính Mình, làm chủ trong cuộc sống chung Con Người -Xã hội . Giải phóng chính minh, tự biết chính mình chính là các giá trị cuộc sống TÂM của Con Người; đó cũng là những giá trị Tinh Thần-Văn Hóa- Tâm Linh cuộc sống Con Người . Tất cả các giá trị Vật chất và Tinh thần đều do Con Người tạo ra và mang tính Thời đại ( Nhân Duyên Cuộc sống Con Người). Tạo ra các giá trị ấy chính là Con Người tạo ra Chính Mình, Tự Biết Tâm Linh Cuộc sống chính mình trong sự tương tức Cuộc sống Xã hội Thế giới. Đó cũng chính là Tự Do – Cuộc sống Con Người!

QN

14.CUỘC SỐNG CON NGƯỜI YÊU THƯƠNG!

Thương tặng các em Q.G.Đ.C.T.P

Tố Tâmsen vang

Ngàn kỷ kiếp một chớp mắt, đi qua! Lịch sử của nhân loại là một tích chứng, là bản cáo trạng đẩm máu đầy nước mắt! Giọt nước mắt rơi, nhỏ xuống trái tim tôi trổ Đóa Hoa Tâm cõi Chân Thường- Thường Chân!

Đầu rơi máu chảy, thịt nát xương tan; sử thi máu lệ biên chép, tụng ca; đền đài, lăng tẩm, thành quách nguy nga… đã, đang tàn lụi; ngọn gió nào vòng quanh địa cầu còn ngậm ngùi thở than trước những chứng tích tội ác, khổ đau Cuộc Sống Con Người-Con Người Cuộc Sống đã lưu vào thời gian, không gian. Tiếng thét gào hờn oán, nước mắt thành sông, xương trắng thành núi! Bầu trời xanh trong xanh, Con Người, sự sống muôn loài đã bao lần tối tăm trong khói lửa, đạn bom, súng gươm! Chỉ bởi vì tham, quyền, bạo, dục, mê, thù hận- Thế giới, non nước điêu tàn, tình người ly tán, lòng người điên đảo! Muôn loài và Ta cùng chung Sự Sống! Cuộc sống cõi đời còn quá nhiều khổ đau: Chiến tranh, thiên tai, tật bịnh; quyền gian, thù hận, vọng tham … Bài học của hàng ngàn năm gửi lại cho muôn đời con cháu xã hội thế giới-con người hôm nay và mai sau!

          Hôm nay, Con Người Thế giới còn nhiều khổ đau! Con người ngã ái càng ra sức trau dồi cho cái bản ngã, cái tôi của mình mưu cầu quyền bính, lợi tham cho bản thân, gia đình, phe phái … Sống ráo hoảnh, vui sướng tự hào, an lòng, hỉ hả, thụ hưởng những thành quả của văn minh vật chất, thành tựu của xã hội Con Người, Thế giới, Nhân loại trên những nỗi khổ đau của con người. Con Người chẳng biết mình đã sống dong ruổi đeo đuổi trong cái thế giới ảo, thế giới hình tướng, vọng mê, chính cái thế giới kỹ xảo văn minh quyền lực ấy sản sinh ra đau khổ. Con người trong cái thế giới đó, sống nô lệ cái sắc thân vật chất, tự nghèo nàn Bản Tâm mình. Đi trên con đường lầm mê phục vụ cái bản ngã mà chẳng hề hay biết. Đó là lối sống mãi miết luân hồi câu thân chấp ngã, Người- Ta phân biệt đối đãi Ngã- Nhân. Mỗi phút giây của sự sống, thực tính chân nguyên của tâm hồn bị ý thức lầm lạc khởi hành vi tạo tác, tập khí thế gian che phủ bản tâm hồn nhiên.

Mỗi người ai ai cũng đều đang sống với bản tâm của chính mình. Bản Tâm an nhiên trong sáng. Tự quán chiếu, tự sáng soi, thấu lẽ vô thường, nhân quả, nhân duyên, mỗi người sẽ nhận biết được luật vô thường, vô ngã, duyên sinh, thế giới duyên sinh không có cái gì có một cái ngã. Tất cả mọi hiện tượng luôn thay đổi, các hình tướng giữa đời không thật, sẽ không bị nó đánh lừa. Không chịu nối giáo cho cái ác, dối trá, không sống đeo đuổi ảo ảnh, cảm xúc, của tiền tình danh lợi, không rơi vào tà kiến khiến cuộc sống vong tình bạc nghĩa. Hãy nhìn lại chính mình hôm nay để có sự Sống Sáng đóa Hoa Tâm của chính mình. Xin đừng sống bỏ lại đời một đống rác to tướng để vẫn đục, ô uế, khổ đau cho con người, cuộc sống mai sau… Hãy Sống và Sống Cuộc Sống Con Người mãi mãi Yêu Thương!

TỐ TÂM

15.VẬN MỆNH ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI

Thích Đạt Ma Phổ GiácNữ Phật tử Aung San Suu Ky

Nữ Phật tử Aung San Suu Ky

“một đất nước được coi là văn minh tiến bộ thì con người phải có tình yêu thương chân thật, biết san sẻ và giúp đỡ lẫn nhau tùy theo khả năng, hạn chế tối đa việc giết hại, không trộm cướp lường gạt của nhau, không phá hủy hạnh phúc gia đình người khác, không nói dối hại người, không nói lời ác độc và không uống rượu say sưa hoặc dùng các chất kích thích như xì ke ma túy làm hại mình, hại người. Không khai thác phá hủy thiên nhiên một cách quá mức, bừa bãi để làm tổn hại cho muôn loài. Một người lãnh đạo hay là một người dẫn đường, phải luôn sáng suốt và thật sự có tình thương đích thực, mới có đủ năng lực điều hành xã hội”

Một vị lãnh đạo đất nước muốn giúp dân chúng an cư lạc nghiệp, có được cơm no áo ấm và sống an vui hạnh phúc trên tinh thần vô ngã vị tha, phải là người có nhân cách đạo đức phẩm chất cao thượng và nhiều tình thương nhất. Tình thương là nền tảng lâu dài, là sự duy trì nòi giống của con người.

Tất cả sự phát triển đổi mới nhằm phục vụ nhân loại chuyển hoá và thăng hoa đời sống. Chùa chiền, trường học, các cơ sở giáo dục và đào tạo nghề nghiệp cũng chỉ để phục vụ cho con người, nâng cao hiểu biết, nâng cao đời sống vật chất nhằm để đạt được an vui hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ. Phát triển quá nhanh trong khi con người chưa đủ khả năng nhận thức sáng suốt, để theo kịp cái đà tiến hoá của xã hội, do đó dễ phát sinh nhiều tệ nạn phi pháp.

Mục đích giáo dục sản xuất kinh doanh nhằm để đóng góp và phục vụ cho con người, nhưng không khéo con người sẽ bị nô lệ vật chất. Chính vì thế người ta phải làm quần quật suốt ngày đêm để được hưởng thụ những nhu cầu vật chất. Cuối cùng con người phải lệ thuộc vào đời sống vật chất mà càng ngày làm mất đi tình yêu thương của nhân loại. Ông bà cha mẹ con cái người thân, không có cơ hội để ngồi lại bên nhau, cùng tâm tình, cùng trau đổi, cùng sẻ chia, cùng yêu thương, cùng hiểu biết, cùng cảm thông những nỗi khổ niềm đau. Chính vì vậy mà tình người, tình nhân loại, tình chúng sinh càng ngày càng xa cách, cả ba thế hệ ông bà, cha mẹ và con cái, nó không còn là sợi dây thiêng liêng để thật sự kết nối yêu thương. Phát triển chậm chắc bền theo căn cơ nhận thức của con người và biết kết hợp thêm đời sống tâm linh, con người sẽ sống có tình thương nhiều hơn, con người sẽ cạnh tranh về trách nhiệm giáo dục với mục đích nâng cao trình độ hiểu biết chân chánh, để giúp cho con người hoàn thiện chính mình về nhân cách phẩm chất đạo đức. Kinh Phật dạy:

Một vị lãnh đạo đất nước nếu người ấy không có nhân cách đạo đức tốt và tất cả những người phụ tá cũng lại như thế. Những người dân sống ở thành thị phố xá và các làng quê xa xôi hẽo lánh luôn gieo các nghiệp xấu ác nhiều. Thì bắt đầu mặt trời mặt trăng đi sai quỷ đạo làm thời tiết thay đổi bất thường, do đó làm xáo trộn đời sống an sinh xã hội, sự gieo trồng mùa màng bị thất bát, không đạt hiệu quả có khi bị mất trắng do hạn hán kéo dài, hoặc bị mưa gió bão bùng lũ lụt cuốn trôi. Khi ấy con người phải dùng những phương tiện thiện xão để tăng nâng suất mới đủ sức phục vụ cho nhân loại. Vì vậy con người càng ngày tuổi thọ càng ngắn hơn, dung mạo xấu xí, sức khoẻ bị giảm sút và con người nhiều bệnh tật hơn.

Ngược lại, một vị lãnh đạo cùng với tất cả mọi người có ý thức hiểu biết đúng đắn, luôn sống có nhân cách đạo đức, luôn sống có tình thương với người và vật, sống đơn giản và muốn ít biết đủ, thì tuổi thọ con người sẽ được dài lâu, hình tướng đẹp đẽ trang nghiêm, có sức mạnh sức khoẻ tốt ít não ít bệnh tật. Phật nói xong tóm lại bằng bài kệ:

Cả đoàn người đi rừng,
Người hướng dẫn đi lạc,
Cả đoàn đều đi theo,
Do không biết lối đi,
Cũng tương tự như thế,
Người lãnh đạo đất nước,
Sống tham dục quá đáng,
Mọi người cùng làm theo,
Cả nước bị khổ đau.

Người đứng đầu một nước,
Có nhân cách đạo đức,
Có tình thương chân thật,
Có thương yêu hiểu biết,
Hay khuyên nhủ mọi người,
Cùng thực hành làm theo,
Cả nước được an vui,
Sống an lạc thái bình.

Đây là một bài pháp thoại Phật nói chung về nghiệp báo của một đất nước, trong đó có nghiệp chung và nghiệp riêng. Không phải khi không tự nhiên mà chúng ta được sinh ra và sống chung một đất nước để chịu chung một hoàn cảnh nào đó. Một người được làm vua hay là người lãnh đạo của một đất nước, tức đã tích luỹ quá nhiều phước báo, nên đời này mới có nhân duyên với nhiều người.

Lịch sử nhân loại từ thời xa xưa cho đến nay vì quan niệm có một đấng sáng tạo, nên các vị vua theo thể chế phong kiến độc tôn, tự xưng mình là con đấng tối cao để trị vì thiên hạ. Đa số các vị vua đều hôn quân vô đạo, nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều vị vua minh quân chính trực. Và đất nước đó có an lạc thái bình hay không, cũng đều ảnh hưởng đến cách thức làm việc của vua. Vua hay người lãnh đạo rất quan trọng, có thể làm cho đất nước thịnh vượng hay suy tàn. Một ông vua chỉ biết vui chơi hưởng thụ cho riêng mình, suốt ngày chỉ đam mê tửu sắc giao quyền hành hết cho các quan lại mà không kiểm tra để chúng mặc tình thao túng muốn làm gì thì làm. Người có quyền lực thì ăn trên ngồi trước thê thiếp đầy nhà sống một đời vương giả, vua quan đã vậy thì dân chúng cũng bắt chước làm theo luật pháp lỏng lẽo, con người tha hóa, suy đồi nhân cách, giết hại vô cớ, phá hủy thiên nhiên, con người sống với nhau không có tình yêu thương chân thật, không biết kính trên nhường dưới, không biết san sẽ giúp đỡ khi gặp người bất hạnh. Trên thì vơ vét bóc lột đem về cho mình, dưới thì mặc tình thao túng kích thích lòng dân vui chơi sa đọa, phá hủy thiên nhiên, làm cho đất nước bị cạn kiệt tài nguyên một cách vô lý do đó thời tiết thay đổi bất thường làm xáo trộn đời sống an sinh xã hội. Từ vua chúa quan quyền cho đến các thứ dân bần cùng đều vui chơi hưởng thụ, đây là nghiệp chung của sự suy đồi nhân cách hỏi làm sao chẳng tan thành mất nước. Do cộng nghiệp xấu này mà cả nước phải chịu nhiều bất hạnh khổ đau.

Mọi hiện tượng sự vật trong bầu vũ trụ bao la này được kết hợp hài hòa do nhiều yếu tố hợp thành, theo nguyên lý duyên khởi “cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không”. Nhưng do sự phát triển của loài người càng ngày càng đông, việc khai thác phá hủy tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi, để phục vụ cho nhu cầu sự sống của nhân loại. Chính vì thế mà thời tiết thay đổi làm ảnh hưởng xấu đến việc gieo trồng lúa, các loại hoa màu là nguồn lương thực chính để cung cấp cho con người. Sự cuồng nộ của thiên nhiên làm hạn hán kéo dài, rồi tình trạng mưa gió bão bùng dẫn đến lũ lụt cuốn trôi tàn phá xóm làng nhà cửa, làm thiệt hại con người và hoa màu các loại. Người không hiểu, không biết, thì cho rằng ông trời đang trừng phạt con người, ông trời ở đây là chỉ cho luật nhân quả luôn âm thầm chi phối tác động, từ nạn phá hủy rừng một cách bừa bãi làm cho thời tiết thay đổi bất thường. Con người vì lòng tham quá đáng nên đã tìm đủ mọi cách nâng cao đời sống cho nhân loại, chính vì thế vô tình hủy diệt muôn loài muôn vật.

Tóm lại, một đất nước được coi là văn minh tiến bộ thì con người phải có tình yêu thương chân thật, biết san sẻ và giúp đỡ lẫn nhau tùy theo khả năng, hạn chế tối đa việc giết hại, không trộm cướp lường gạt của nhau, không phá hủy hạnh phúc gia đình người khác, không nói dối hại người, không nói lời ác độc và không uống rượu say sưa hoặc dùng các chất kích thích như xì ke ma túy làm hại mình, hại người. Không khai thác phá hủy thiên nhiên một cách quá mức, bừa bãi để làm tổn hại cho muôn loài. Một người lãnh đạo hay là một người dẫn đường, phải luôn sáng suốt và thật sự có tình thương đích thực, mới có đủ năng lực điều hành xã hội. Vì thế, mỗi ngày chúng ta cần phải mở rộng tấm lòng từ bi, rải tâm tình thương và thường xuyên quán chiếu nơi thân khẩu ý của chính mình, để mọi người sống với nhau có hiểu biết và thương yêu hơn, chúng ta sống với nhau có hòa bình và thật sự có niềm vui nơi tâm mỗi người.

http://thuvienhoasen.org/a24590/van-menh-dat-nuoc-va-con-nguoi

 16.Chuyện nước trong nhà

Tản văn

Nguyễn Ngọc Tư

nuoc ngap 2Mở mắt ra, chân quơ tìm dép thấy giặc đã ngang nhiên ở đó. Nước, không biết vào hồi nào, ngập nửa chân giường. Lần đầu tiên cái thành phố nhỏ này nổi trôi theo những ngày mưa trút xả, hồi nào giờ cứ tưởng đâu nó nghiêng chừng hai ba độ bảy, có nhiêu nước dốc chảy ra biển hết, nhưng giờ biết không phải vậy.

Một cuộc xâm lăng trắng trợn. Mở rộng lãnh thổ của mình vào tận các hộc bàn, nước tràn qua mặt ghế sô pha, thậm chí nó còn reo khi qua cửa hẹp. Bầy cá lòng tong lăng xăng lội te vào dọ thám mọi ngóc ngách, bã mía và lá khô thì điềm đạm hơn, dường như có chút tự ti cái phận rác của mình.

Những nếp nhăn trong vỏ não bà già cũng như bị úng nước. Mấy món đồ điện tử đắt tiền sắp ướt đít, nhưng bà mãi cứu hủ rượu mơ, tìm chỗ kê cao bình bông giả, cuốn võng lại. Bận rộn với đám đồ linh tinh vô giá trị, đến điện, thứ có thể rò rỉ bất cứ lúc nào, bà già cũng quên ngắt. Lúc ngơi tay đứng thở, bà ngó quanh, nghĩ những thứ đúng kiểu người già lo xa, biết dọn dẹp nổi không, một mai nước rút.

Ngày mai ấy chưa tới, còn lâu mới tới khi bão nối bão ngoài khơi, bầu trời cú rủ nặng trịch, và hiện tại nước không có dấu hiệu dừng cuộc chiếm đóng vô lối. Xế trưa nước đã lên quá đầu gối, bà già nghĩ tối nay chắc khó ngủ lắm đây, nghe sóng vỗ ì oạp dưới lưng, lại nhớ cái hồi ở trên nhà sàn của ông nội. Lúc ấy vẫn chưa tính tới chuyện bứt đi. Bỏ đi là chịu thua sao, dễ gì, bà già nói vô điện thoại lúc gọi cho thằng con độc nhất giờ đang ở xa ngàn cây số, nó giảy nảy kêu mẹ tạm chạy qua bên ngoại đi. Đâu được, ở lại coi chừng nhà cửa, bà già cãi.

Nhưng nước lên tinh thần xuống, phần do ngấm lạnh và thấm mệt, bà già tính chuyện chạy lụt. Chỉ nghĩ thôi mà đã rầu thúi ruột rồi. Làm sao chở theo cái võng ban trưa nằm đọc sách, bộ dàn Akai sáng nào Thái Thanh cũng da diết “tim vang còn giây lát/hơi run còn thơm ngát/dương gian còn trong mắt/nghe tiếng hát chưa nhạt tan”, bộ bàn đá mài đặt ngoài hiên bà hay ngồi uống trà đón mặt trời, cái tủ lạnh lúc nào cũng chật ních những món ăn thú vị.

Bà già không muốn bỏ lại gì trong vòng tay lạnh lẽo của nước. Mọi thứ trong căn nhà nhỏ như lỗ mũi này đều quan trọng, thiết thân, áp chặt vào đời sống thường ngày. Sống một mình, bà già dành hết sự quan tâm vào cái tổ, như hồi xưa chỉ chăm chú vào thằng con, mặt nó hớn hở chắc là hái điểm cao, móng tay nó dài rồi kìa, tóc nó chải kiểu này coi không được, nó trỗ mã nhanh quá áo chưa chi đã ngắn. Rồi thằng nhỏ lập nghiệp ở xa, bà day qua cưng nhà, dồn vào nó thứ tình cảm đến mức cực đoan, kiểu như không nhà ai hay bằng nhà mình. Nên bà dõi theo chỗ sơn tường tróc lở hình như loang rộng ra một chút sau mưa, một viên gạch bật lên khỏi nền nhà, cửa gỗ bị nắng làm cho co ngót. Những tác động của thời gian và thiên nhiên lên ngôi nhà, dù là nhỏ, bà già cũng cảm nhận được ngay.

Giờ thì nhà chịu trận lún trong nước, chủ nó sắp chạy trốn. Như một kẻ bội phản, bà già nghĩ vậy trong lúc nhét bộ đồ vô giỏ, với tay lấy cuốn truyện ngắn Sê Khốp. Không thể mang theo cả căn nhà, nên cũng hết ham những thứ khác, kể cả thức ăn trong tủ lạnh mà cho dù ở chỗ nào thì bà cũng ăn được như thường, nhất là lúc này, sau một ngày mỏi rã. Chỉ mỗi việc tắt đèn hay không tắt đèn, thì nghĩ khá lâu. Nhà đã ướt rồi, giờ thêm tăm tối, nó lạnh chịu gì nỗi, bà già nghĩ vậy mà không nỡ gạt công tắc.

Nấn ná, tiếc rẻ, bịn rịn, rồi cũng phải rời đi. Lúc ra cỗng kịp cặp nách nải chuối xiêm chín bói, mà tại sao phải là nó mà không phải thứ gì khác thì chính bà già cũng không giải thích được, ngoài lý do tiện tay. Ngoài bộ quần áo khô, nải chuối và chút tiền gọi là gia tài, bà già không mang thêm gì nữa. Cả chiếc xe cub cà tàng cũng ướt bu gi câm như hến rồi.

Trong chuyến đi cuối cùng của một đời người sang bên trời khác, những thứ đem theo được cũng chỉ từng này. Sau ý nghĩ ấy tự dưng bà già thấy lòng thanh thản lạ lùng, khi ngoái lại căn nhà lần nữa.

http://www.viet-studies.info/NNTu/NNTu_ChuyenNuocTrongNha.htm

17.TÓC MẸ VÀ MÂY CHIỀU

Thơ Phan Lạc Dân hoa sen 1

Mây xưa từ giã trời Hoàng Hạc

Về thăm tóc mẹ buổi tàn thu

Mây trắng ngàn năm đang xuống thấp

Ôm hết sông hồ xanh tiếng ru.

Mây xưa từ thuở lìa non thẳm

Theo bước chân con xuống phố phường

Ngày mẹ chợ trưa sang quán xế

Nhín nhúc tim gan gởi chiến trường.

Tóc trắng ngàn năm thương nhớ quá

Thương dề rau má lá rau răm

Con nghểnh ngảng phương trời mơ mộng

Để mẹ sương sa thấm chỗ nằm.

Ngày con chập chững hai ba bước

Mẹ đã bồng con chạy tản cư

Soi gương tóc muối tiêu mà sợ

Mây trắng đi không kịp giã từ…

Mòn mõi lầu xưa mây cứ trắng

Tóc hoàng hôn mẹ dật dờ quanh

Mai…mây về xứ: thăm mồ mả

An ủi côn trùng, thương cỏ xanh!

ÁO KHINH CỪU TẶNG BẠN

Phú quý tặng nhau toàn của quý

Kèm theo câu tán tụng mỹ miều

Chỉ có hàng cùng đinh vạn đại

Quần tàng áo vá nhín trao nhau.

…Lòng đấy lòng đây chi nói nữa

Đành gọi vui là áo khinh cừu…

Là bởi te tua rành vá víu

Đâu thèm đày ải xót gian truân

Áo ơi! cớ sự ra nông nỗi

Mà bố y dày sẹo phong trần.

Gói dãi dầu trao cho dầu dãi

Trao làm thinh…nhận cũng làm thinh

Khinh cừu! nạt lớn lời tang hải

Mưa nắng thương mùa…loạn bất minh!

Phan Lạc Dân

18.TUỔI THU!

Trang ramTrăng Thu cùng ta có nhau trong sự sống duyên sinh trên muôn ngàn nẻo sống. Mặt trời sáng soi, nhịp sống thế giới hòa điệu, muôn loài chan hòa sức sống bên nhau. Trăng soi cõi đời, tuổi thu đôi ta như trăng thu trong cuộc tình trần thế. Trăng sáng tuổi Thu anh, luôn có em, Anh ôm trăng vào lòng,   ru mãi khúc tình thu   !  Đời có bao giờ lặng yên con sóng dữ! Sóng xô, sóng vỗ, sóng đẩy, sóng chồm, giông tố nhưng sóng vẫn dịu hiền như mặt hồ;  ngọt ngào như biển hát cuộc đời yêu thương,  như ánh Trăng Thu  vàng   đẹp sáng….

Nhân duyên cuộc sống đôi lứa, có anh là có em, nay tuổi thu về có bà là có ông. Dòng sống cuộc đời có lúc đục, lúc trong. Đạo vợ chồng lắng đục khơi trong, luôn gìn giữ, nuôi dưỡng chăm sóc tâm hồn cho nhau trong vạn nẻo đục trong giữa dòng đời. Bên nhau chăm lo những đóa hoa mới vào vườn đời, dạy dỗ con,  cháu,  sống vẹn tình Hiếu Đạo, sống sáng đẹp như ánh trăng vàng Thu  …

Thu về lá vàng rơi ươm mầm lá xanh mong đợi . Mùa thay sắc, vật chuyển hóa diệu bày sự sống duyên sinh. Thu cũng hóa thân trong sắc đông xuân, hạ, trong từng cánh lá xanh của ngàn xanh sức sống. Tuổi thu  đôi ta đến với mùa thu cuộc đời, qua những nắng, gió đông, nỗi đau lắng dịu trong lòng yêu thương Cuộc sống Con Người,  Tự Quay về với mặt trời Đóa Hoa Tâm dịu hiền sáng trong nay đã tỏa ánh Trăng Thu sáng ngần và sáng cuộc đời tươi đẹp hiền hòa dưới mái nhà xanh màu cuộc sống duyên tình đôi ta., dù đôi khi còn những giọt nước đọng trên sắc vàng phai lá thu…

Những chiếc lá vàng bay vào cõi tình thu, bay vào cõi không mênh mông và sâu thẵm của tâm hồn. Trăng thu còn mãi, luôn thiết tha cuộc đời, cuộc sống con người,   yêu thương mong đời thoát khổ, sống vui!

Tuổi thu cuộc đời đến với những chiếc lá xanh,những chồi búp lá non đang nức, mạch sống cây đời đang tuôn tràn sức sống từ những dòng nhựa nguyên cội rễ nguồn sống vô biên.

Vầng Trăng Thu sáng đẹp! Ngoài hiên còn những giọt mưa Thu!

TỐ TÂM

 

19.

Hoài Linh Vũ

MeMá tôi – con gái Quảng Nam

Quê miền Hà Nhuận bên dòng sông Thu

À ơi kẽo kẹt võng đu

Cha thương, mẹ quý hát ru sớm chiều

Anh chìu, chị ẳm ấp yêu

Ngày càng xinh xắn mỹ miều dễ thương

Tóc huyền, da trắng nõn nường

Mắt tròn đen láy, má hường hây hây

Bao chàng trai tráng ngất ngây

Buông lời đắm đuối, nước mây hẹn thề…

*

Mười mấy tuổi má vào chơi Đà Lạt

Thăm cậu Hai, anh má đó mà

Rồi theo chị bán buôn cho biết phố

Cô gái thơ ngây xinh xẻo mặn mà!

Rồi cứ thế ngày qua tháng lại

Bóng hồng tươi loáng thoáng giữa nắng trưa (?)

Lọt mắt xanh một chàng trai trẻ

Bước không đành, lướt thướt dưới trời mưa!?…

 

Chuyện tình yêu ngày xưa đơn giản thế!

Chẳng thề non hẹn biển bao giờ

Anh trai nghèo thương cô gái ngây thơ

Trình người lớn đưa về quê làm đám cưới,…

Lấy phải chồng nghèo, mồ côi, chẳng sướng

Thiếu thốn, ngặt nghèo từng manh áo miếng cơm

Thương yêu nhau dắt díu vượt đoạn trường

Ba dẫn má đi tìm phương sinh sống…

*

Vô Đà Lạt bắt đầu khởi nghiệp

Chưa an cư phải tứ tán bởi chiến tranh

Xuôi Phan Rang lánh nạn giặc hoành hành

Nắng! Nóng dữ má liền đổ bịnh!

Rồi sau này, nghe ba kể lại

Má bịnh ốm nhom, ốm nhách thấy mà ghê!

Ba gánh má, đầu kia là đồ đạc

Giặc Tây thấy cảnh này, cũng phải chào thua!

Hồi đó, má đau lại thêm đói khát

Thấy thịt cừu má đòi ăn cho mát

(Kệ, cứ kiểu này trước sau cũng chết)

Má ăn nhiều nhưng… má lại vượt qua!

 

*

Tàn chinh chiến má ba quay về lại

Quê thứ hai Đà Lạt dấu yêu

Tay trắng bắt đầu sự nghiệp trắng tay

Đường Lò Gạch, nơi dừng chân mãi mãi…

Ba đi làm thợ hồ,

Má ở nhà nội trợ

Hoàn thành xuất sắc

Chức năng làm vợ!

 

Làm vợ, má làm dễ thế!

Vậy mà làm mẹ, khó khăn làm sao!

Khổ thân má qua mấy lần sinh nở

Nhưng đều không nuôi được má ơi!

Má đau buồn ngày một xanh xao!

Rồi mong mỏi cũng động lòng trời đất

Trở đầu con, má sinh được chị Hồng

Ba sung sướng ngày đêm bế bồng

Quên cả việc làm khai sinh cho con gái!

Nhiều năm sau “thông thương” trở lại

“Ba năm đôi” cứ thế chào đời

Hồng, Điệp, Phương, Mai – Bốn ả xinh tươi

…Ba thắc thỏm trông mong “hoàng tử”!

Ba năm sau, má sinh em Tuấn

Thế là“cầu được ước thấy”, phải không ba?

Em tròn quay, bụ bẫm đẹp nhất nhà

Người vui sướng lần này không ai ngoài má!

Rồi lần lượt Kiệt, Hà, Quyên, Vũ

Chín chị em ta khổ vui nếm đủ

Má thương lo từng tí từng li

Từng miếng ăn, giấc ngủ chẳng ai sánh bì!

*

Má chúng ta, hiền lành đức độ

Thấy ai đánh nhau má sợ trốn trong nhà

Thương người nghèo, giúp kẻ khó thân sơ

Dè xẻn chi tiêu nên không bao giờ mắc nợ!

Má học ít nhưng nên hư đều biết

Nấu nướng, đan len, bánh mứt rất tài

Sống với em dâu mấy chục năm dài

Hòa thuận, ấm êm từ trên xuống dưới!

Khi tết đến má sắm sanh quần áo,…

Mỗi đứa con may hai bộ giống nhau

Mỗi con gái một cặp nơ kim tuyến

Đỏ, vàng, xanh…lấp lánh trên đầu.

Thỉnh thoảng má dẫn con đi chợ

Má hỏi thích ăn gì má sẽ mua cho

Mì sợi, bánh bèo, bánh ít hoặc xôi, chè,…

Đủ thứ món con thích gì ăn nấy!

Má thường dặn: mua trầu cau cứ ra ngay bà Giới,

mua hàng khô ghé bà Tư Tục có đủ rồi,

giá cả ra sao chẳng phải trả treo,

khi mua bán nên cười vui dễ chịu.

Nhớ mỗi lần má kêu về bắt chí

Ham chơi; sợ đau con bỏ chạy thật xa

Đêm ngủ say, má soi đèn bắt

Con cựa mình: “Ngủ, ngủ má đây mà!”

Tối đi ngủ má thường hay đọc truyện

Truyện ngày xưa viết theo lối văn vần

Thoại Khanh Châu Tuấn, Chàng Nhái Kiểng Tiên,

Phạm Công, Cúc Hoa có Nghi Xuân Tấn Lực,…

Có nhiều truyện nghe xong các con hậm hực

Biết tức mình với ác đức, bất nhân

Biết thương cảm, xẻ chia với bao nỗi nhọc nhằn

Và rơi lệ âm thầm tha thiết…

Những mẩu chuyện đã đi vào tiềm thức

Vào tâm tình con trẻ tự xa xưa

Lý thuyết ấy tuôn dòng thành hiện thực

Áp dụng vào đời sống hôm nay…

 

Nhớ những lần con về quê thăm má

Con đông con, nghèo khó má thương lo

Má hỏi han, tỉ tê, dặn dò, khuyên chịu khó

Chừng ra về má dấm dúi… nhỏ to!

Công ơn má bao la trời biển

Đến bây giờ nghiệm lại chẳng hề sai

Học ở má tấm lòng nhẫn nại

Buông niềm riêng lo vun vén tương lai!

 

Sáu bốn tuổi con nghĩ suy về má

Cuộc đời này ít được mấy ai hơn

Với láng giềng má luôn hòa ái

Với cháu con má hết mực yêu thương

Không nói ra nhưng cháu con đều biết

Trên đời này MÁ trọn vẹn trong tim!

Con tin chắc một điều trong cõi hư không

Má đang nở nụ cười mãn nguyện

Chúng con cố sống cuộc đời xứng đáng

Mai này dâng mừng BA MÁ tiệc liên hoan!

BL, 09/8/2015

Phan Thị Điệp

HLV

 

20.Con Người-Cuộc Sống, tình người mãi thắm xanh….

 Tố Tâm anh sang con nguoi cuoc song

Bóng nắng đã chiếu đến tách cà phê trên chiếc bàn đá bên hông sân nhà! Ngồi uống cà phê với nắng, gió, lá, hoa… Xa xa, mây bạc, trắng, đùn lại từng cụm trên đỉnh dãy núi Đại Bình. Các cụm mây nối, chụm lại, kết thành hình dáng các cụ già ngồi trên mây trời nhìn xuống thế gian. Ngắm mấy tầng mây bạc óng ánh xà cừ, một niềm thương nhớ lâng lâng: “Cha Mẹ mong đàn con Thoát Khổ!”.

Gió, thoảng hươngdàn hoa thiên lý… Nhớ Ông Bà Cố của các cháu! Các bậc Mẹ Cha của thế hệ ông bà ngoại hôm nay, cả đời người, có bao giờ ngưng nghĩ lo thương… Thương con cháu, thầm lặng, theo ngày tháng Chân Thường. Các ông bà Nội Ngoại hôm nay đang sống đẹp ân thương trong dòng sống Thường Chân! Mẹ đi vắng, mọi việc con gái thay mẹ. Vắng Bà Ngoại ai cũng nhớ và Ông Ngoại được thêm gần gụi Bà Ngoại hơn…

Nhớ, nhớ quá, nhớ người hôm nay, nhớ người hôm qua, nhớ người người đi qua cuộc đời ta! Hạnh phúc thật gần, như ánh dương với cuộc sống muôn loài. Lòng diệu lâng, hương nắng ôm choàng cả cõi đời, cõi thực sống, sống không chết! Sự sống là ánh sáng tâm hồn!

Ta đến với nhau trong cuộc đời, cuộc đời ta bên nhau. Ta trong cuộc đời nhau, cuộc đời trong ta. Tình yêu cõi đời với mỗi người nào có cách xa. Ta thở cùng muôn loài cuộc sống . Từ sự sống ta dần hiểu ra “Sỏi đá cũng cần có nhau (TCS)”. Đâu phải chỉ là xanh ngát trời xanh trong đôi mắt em, trong đôi mắt ấy còn chất chứa nỗi buồn của con người, cõi đời chưa có nắng. Nắng thu, gió thu, lá thu luôn bên nhau cùng chung sự sống… Thu, Đông, Xuân, Hạ, rồi Thu… lặng lẽ chuyển đổi hình hài… đến, đi…có tình nào nhạt phai. Từng mùa thu qua đi. Đôi ta thế hệ thứ ba tiếp cuộc tình, cuộc tình vô thủy vô chung. Được yêu thương, được chăm sóc cho sự sống an lành của nhau, của Gia đình – Gia tộc – Xã hội. Gió tuần du qua ngàn núi biển khơi gieo tình muôn phương; gió reo, gió hát như tấm lòng của người, cỏ cây hoa trái… Nguồn nước trong Sự Sống Sáng tưới tắm, gội rửa, lắng dịu sầu đau… Nắng lên xua tan tăm tối, nắng reo ánh sáng ngời nghĩa đời người biết thương nhau… Ta nghe hơi thở nhân ái diệu ngát trần gian!. Hoa an nở thắm Tâm Hồn. Ánh sáng Tâm Hồn sáng trong vô tận! Yêu em, yêu Người mãi mãi….

Làn gió thoảng, lá rơi, gió nhẹ nâng hai cánh lá vàng xanh thả mình trên chiếc ghế đá. Gió, lá, hoa… cùng người miên man cuộc tình thế giới duyên sinh. “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng(TCS)…” Em ơi, những cánh lá vàng xanh trên cành, tung bay trong gió, đùa reo xào xạc trên đất nâu, rượt đuổi nhau trên dòng nước… như những đôi tình nhân, những cặp vợ chồng tâm đồng trong phong ba bão táp. Cuộc đời bên nhau trên con đường Tự Quay Về cội nguồn nước trong sự sống sáng. Ta chia sẽ cho nhau nỗi khát khao, mong cho cõi đời bình an, hạnh phúc, yêu thương. Chăm lo cho con cái biết sống trọn nghĩa ân đời Đạo lý Chân Thường-Thường Chân. Cho cây đời, Con Người-Cuộc Sống, tình người còn xanh mãi thắm xanh, long lanh ánh sáng Chân Thường, Người ơi!

TỐ TÂM

 

21.ĐÀ LẠT BÂY GIỜ

Hoài Linh Vũ

Dalat 2

 

Đà Lạt bây giờ còn gì để nhớ đâu em!

Dốc Duy Tân người ngả ngớn đông

Thông chết lặng lâu rồi em có biết?

Trăng đâu còn thấp thoáng giữa ngàn thông!

 

Đà Lạt bây giờ còn gì để ngắm đâu em!

Vắng: con đường xanh mát dịu mơ màng,

hoa dại đưa hương, lượn lờ cánh bướm,

biệt bóng tình nhân hò hẹn thẹn thùng,…

 

              Đà Lạt bây giờ còn gì để nhớ đâu em!

              Đâu: đồi thông hai bên đường Hải Thượng,

              gió rì rào thông trổi nhạc tơ vương,

              những chùm mâm xôi chín mọng ngon tươi,

              làm ngọt lịm đôi môi, tròn vo đôi mắt,…

              Của chúng mình một thời cắp sách

              Lúc tan trường cả bọn kéo đi chơi

              Đà Lạt ngày xưa như cảnh Bồng Lai

              Những mảng cỏ xanh mượt đến chân trời….

             

              Đà Lạt bây giờ ngàn xưa vắng bóng

              Bàn tay ai phá nát cảnh tiên này

              Ta muốn nhìn màu cuộc sống đượm hương

              Và nghe tiếng chim ca vui trong nắng….

 

              Hãy đền cho ta vòm xanh của Đất Trời

              Cho màu sương giăng mỗi buổi sớm mai

             Cho ánh hoàng quang của ngày xưa ấy

              Mãi sống trong ta yêu dấu từng ngày…

                                                                        BL 2015

 

22.Tản mạn Đà Lạt đã mất

Đà Lạt, hồi ức đẹp xưa,

buồn cho con người cảnh quan ngày nay

Thiên Chánh

DL 8

Yêu lắm Đà Lạt cách đây 50 năm khi tôi được sinh ra

Tôi vội vã đạp xe về nhà từ 5h sáng sớm. Cũng như mọi người, mỗi sángvận động thể dục một chút bằng đạp xe hay đi bộ để giữ gìn sức khỏe. Nhưng hôm nay đạp vội vã hơn mọi ngày, không phải vì ngày nghĩ Tết dương lịch về sớm hơn để đi đâu đó… Mà vì trốn cái không khí ồn ào của người và xe đang giành lấy sự yên tĩnh sáng sớm của Đà Lạt.Tôi đã bước sang tuổi 50, cũng chừng ấy 50 năm gắn bó với Đà Lạt, nhưng hôm nay có một cảm giác buồn Đà Lạt đang mất dần.

Đà Lạt như cô sơn nữ e ấp mà tôi muốn làm thơ nhiều về em, nhưng giờ em sắp trở thành cô gái thị thành diêm dúa. Rồi những ký ức đẹp tái hiện, nhưng nó chỉ còn là quá khứ…

Thuở nhỏ, buổi sáng nào đi học trời cũng mù mịt sương, đến nỗi xe hơi chạy ban ngày còn phải bật đèn pha.Nhưng giờ nó là hàng hiếm, có lẽ phải đi thật xa ra ngoài ngoại ô Xuân Trường, Xuân Thọ, Thái Phiên mới tận hưởng. Hoặc có cũng bất thường sau những ngày dài mưa nhưng mỏng dính đã tan nhanh. Ngày bé đi học nhìn mấy cô bạn gái má đỏ ửng , áo len găng taytím hồng, tà áo dài trắng quyện vào nhau hư hư thực thực.Giờ chỉ là ký ức tuổi học trò.

Cái lạnh vẫn còn nhưng cái ôn hòa đã mất. “Khí hậu Đà Lạt vốn được ca tụng là mùa thu bất tận, nhưng bây giờ là mùa gì không biết”.

DL 1Trưa tan học về đi bộ bậc thang cấp chợ Đà Lạt, lãng đãng cô bán hàng rau, bán đậu hũ ngoài chợ cũng bận áo dài trắng. Chợ Đà Lạt đẹp, một công trình Kiến trúc đáng nễ của Ngô Viết Thụ, giờ không gian bị phá vỡ, bị nhốt trong những tầng nhà, khối bê tông khách sạn từ lúc nào.

Một tiểu Paris chìm trong sương mù, trong ngàn thông reo và cái lạnh e ấp đã mất. Khí chất của Đà Lạt làm cho con người ta hiền hòa hơn, thơ hơn. Nhưng giờ nhường vào đó là sự ồn ào náo nhiệt. Con người Đà Lạt gốc cũng bị lai hóa phong cách sống, thực dụng hơn và vấn đề vô cảm cũng xuất hiện khá nhiều. Đam tang đi qua cũng không còn đứng lại ngã mủ chia sẻ. Nhà hàng khách sạn nhiều hơn nhưng không đồng nghĩa với sự mến khách và hiền hòa được giữ gìn mà để lại những điều tiếng đáng buồn ” nâng giá , chặt chém khách du lịch”. Khúc phố khuya lặng lẽ với bếp than hồng của cô bán hàng co ro bán bắp nướng trong đêm lạnh, của hàng nước sữa đậu nành bốc khoái ấm áp nhường chỗ cho cô cậu trẻ ôm nhau phóng như bay gầm rú phá tan không gian thanh vắng.

Những ngôi biệt thự ít ỏi còn sót lại nhưng người bạn của nó là lớp sương huyền ảo và những gốc thông xù xì đã chết.Xã hội phải phát triển, đây là điều ai cũng mong muốn,nhưng Đà Lạt đang thay đổi nhanh quá, không hợp với Đà Lạt chút nào. Đà Lạt thay cái áo màu xanh của rừng thông thành cái áo đủ màu bê tông sắt thép.Những khoảng trống bất kiến tạo đáng lẽ phải được để dành, nay lại bị tận dụng triệt để.

đô thị xưa mộc nhưng ngăn nắp

DL 2

 

 

 

đô thị nay phát triển nhưng phá vỡ không gian

DL 3

 

 

 

 

 

Cảnh quan xưa thiên nhiên ban tặng rừng thông và hồ nước thơ mộng

 DL 4

 

 

 

 

 

 

Cảnh quan nay, rừng thông, trảng cỏ vắng dần, thay thế bằng công trình đang lấn át dần kiến trúc đặc hữu

 DL 5

 

 

 

 

 

 

Đà Lạt ngày càng nóng, ngập úng liên tục; những “đặc sản” thông, sương… trở thành của hiếm. Môi trường ô nhiễm trầm trọng

DL 6

Hiện đại và phát triển là tích cực nhưng đừng phá vỡ những gì thiên nhiên ban tặngDL 9

 

 

 

 

 

 

 

 

Năm mới, chúng ta hy vọng những điều mới, tôi chia sẻ với các bạn hữu cũng mong muốn những điều mới, tốt đẹp lắm chứ: như sức khỏe, may mắn, công việc ổn định. Nhưng cái mới muốn chia sẻ là điều ước: mong sao Đà Lạt thiên đường của quá khứ đã mất sẽ được gìn giữ đừng mât thêm và tái hiện lại từ con người, góc phố , hàng cây, ngọn cỏ……

01/01/2016

23.‘Tích hợp môn lịch sử sẽ là một thảm họa khôn lường!’

 PGS-TS Phạm Quốc SửTo quoc tren het

…”Gốc rễ vẫn là ở tính khoa học độc lập của môn sử, ngành sử. Độc lập ở đây là không bị chính trị hóa, chứ không phải chỉ là môn lịch sử tồn tại độc lập trong chương trình giáo dục phổ thông. Có độc lập thì sẽ có khách quan, khoa học, có cống hiến thực sự cho Tổ quốc, cho dân tộc, cho lẽ sống, sẽ được đời kính trọng, nhà nước nể vì. Có độc lập thì có sáng tạo trong dạy học lịch sử, sẽ có muôn vàn phương pháp tìm hiểu, khám phá lý thú được áp dụng, và học sinh sẽ lại say mê, yêu thích môn học này”…

“Đừng bao giờ nghĩ bảo vệ môn lịch sử là bảo vệ “miếng cơm, manh áo” cho người dạy sử, mà đó còn là bảo vệ sợi dây kết nối tốt nhất của dân tộc hôm nay với nguồn sinh khí truyền thống và thời đại”, PGS-TS Phạm Quốc Sử – Trưởng khoa Lịch sử, Trường đại học Thủ đô Hà Nội khẳng định.

 Xoay quanh việc tích hợp môn lịch sử được Bộ Giáo dục – Đào tạo nêu ra, cùng với những ý kiến đa chiều từ các chuyên gia, các nhà nghiên cứu sử học, các giáo viên lịch sử, PGS-TS Phạm Quốc Sử đã có những chia sẻ, những quan điểm hết sức thẳng thắn về vấn đề này.
Tìm hiểu, dạy và học lịch sử là vấn đề sống còn của dân tộc

-Thưa thầy, lịch sử và môn lịch sử có vai trò như thế nào trong đời sống hiện nay?

-PGS-TS Phạm Quốc Sử: Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống. Hầu hết những gì diễn ra hôm nay đều có nguồn cội, căn nguyên từ quá khứ, hay nói cách khác đó là sự tiếp nối của quá khứ. Bởi thế, muốn hiểu hiện tại, muốn hành xử cho đúng, không lệch lạc trong tương lai thì phải soi chiếu vào lịch sử.

Còn môn lịch sử, nó sẽ giúp chúng ta tìm hiểu quá khứ một cách có hệ thống. Tuy nhiên, có nhận thức đúng về quá khứ hay không còn phụ thuộc vào quan điểm và phương pháp nhận thức, quan điểm và phương pháp nghiên cứu lịch sử, dạy và học sử của mỗi người.

Đất nước, cộng đồng hay cá nhân nào cũng cần đến vai trò của lịch sử. Với dân tộc Việt Nam, việc tìm hiểu lịch sử còn quan trọng hơn nhiều, bởi lẽ đất nước ta luôn bị đe dọa, xâm lăng, ngay cả lúc này. Vì vậy, việc tìm hiểu, dạy và học lịch sử là một trong những vấn đề sống còn của mỗi người trong cộng đồng dân tộc. Hơn nữa, Việt Nam đang ở trong thời kỳ hội nhập, học sử là để hiểu mình, hiểu người, giúp chúng ta biết mình đang ở tầm vóc nào, hiểu rõ bạn bè và kẻ thù của mình, từ đó sẽ hội nhập tốt hơn.

-Theo thầy, việc tích hợp môn lịch sử cùng 2 môn giáo dục công dân và giáo dục quốc phòng thành môn công dân với Tổ quốc thì có hợp lý không và tại sao?

-PGS-TS Phạm Quốc Sử: Bản thân tôi nhận thấy không hợp lý chút nào, thậm chí là phản khoa học, phản chính trị. Chính trị ở đây là muốn nói đến nhận thức non kém, mất cảnh giác khi việc tích hợp có thể làm nhạt nhòa, biến mất môn lịch sử, môn học mà ở bất cứ quốc gia nào cũng được giao một nhiệm vụ tối thượng là trang bị cho người học kiến thức để nuôi dưỡng tình yêu Tổ quốc và nhận diện mọi kẻ thù.

Lich su, PGS.TS Pham Quoc Su, tich hop,

PGS-TS Phạm Quốc Sử cho rằng “tích hợp môn lịch sử sẽ là một thảm họa khôn lường!”

Môn lịch sử không phải chỉ của người dạy lịch sử mà là của nền giáo dục đất nước. Với vai trò quan trọng của nó, đặc biệt là môn quốc sử cùng với môn quốc văn đã được khẳng định rằng không thể nào thiếu và trộn lẫn với các môn khác.

Nếu như môn quốc văn giữ cho dân tộc hồn cốt thiêng liêng để người Việt không quên tiếng Việt và văn hóa Việt thì môn quốc sử giữ cho dân tộc nguồn sinh khí và sức mạnh, giúp cho dân tộc không quỳ gối trước bất kỳ thế lực cường quyền nào. Bởi thế kẻ nào “đánh vào môn lịch sử”, thủ tiêu hay làm biến dạng và tan rã bộ môn này tức là đã chặt đứt động mạch chính kết nối quá khứ với hiện tại, kết nối nguồn sinh khí với cơ thể sống của dân tộc hôm nay.
Quan trọng là lựa chọn cái gì và dạy như thế nào

-Về chuyện tại sao lại có việc gộp môn lịch sử vào môn công dân với Tổ quốc, theo Bộ trưởng Phạm Vũ Luận: “Thứ nhất là theo tinh thần chủ trương tích hợp. Thứ hai, Luật Giáo dục quốc phòng an ninh được Quốc hội thông qua có quy định giảng dạy lịch sử giữ nước, lịch sử quốc phòng. Chúng tôi dự kiến đưa lịch sử vào đó để tránh trùng lặp”. Thầy có ý kiến như thế nào?

– PGS-TS Phạm Quốc Sử: Theo tôi, đây là cách giải thích hoàn toàn không hợp lý. Giải trình thế là sai, bởi mấy lẽ:

Thứ nhất, “tích hợp” là một chủ trương, thậm chí là một chủ trương “sáng giá” của Bộ GD-ĐT, nhưng không có nghĩa là cho phép Bộ lôi tuột tất cả các môn vào đó mà không có cân nhắc. Lịch sử là môn học có thiên chức đặc biệt, cần hết sức thận trọng nếu như định đụng đến nó. Đã trót để cho nó “nhếch nhác” rồi thì giờ là lúc giúp cho nó “phục sinh” chứ không phải làm cho nó bị “hòa tan”! Tiếc là Bộ không có chuyên gia lịch sử, hoặc đã không hỏi các chuyên gia lịch sử về vấn đề này.

Thứ hai, sao lại sợ trùng lặp kiến thức lịch sử giữ nước với giáo dục an ninh quốc phòng mà bỏ cả môn lịch sử? Vậy lịch sử đất nước trên các bình diện khác (như kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa), lịch sử nhân loại không học nữa sao? Các môn khác có thể sử dụng ít nhiều kiến thức lịch sử, nhưng là để phục vụ cho nhiệm vụ của chúng, không thể thay thế cho hệ thống kiến thức toàn diện và sâu sắc của môn lịch sử được.

Thứ ba, chủ trương tích hợp như vậy là quá đơn giản, thuần túy từ góc độ kỹ thuật mà thiếu nhãn quan khoa học, không có triết lý và tư tưởng trong việc giáo dục học sinh.

-Thầy có cho rằng vì kiến thức lịch sử của ta quá nặng mà chưa có sự đổi mới trong cách dạy, tạo sự thích thú cho người học nên dẫn đến có dự án tích hợp này không?

– PGS-TS Phạm Quốc Sử: Đã có gì mà nặng. Liệu người ta còn muốn cuốn sách giáo khoa lịch sử mỏng thế nào nữa, còn muốn kiến thức lịch sử được dạy trong nhà trường bị lược bớt, giản đơn đến mức nào nữa? Tôi đã cầm hai cuốn lịch sử phổ thông trung học nước Mỹ, mới xuất bản, nó to gần bằng khổ giấy A4 và dày gấp 3-4 lần cuốn lịch sử phổ thông trung học của ta, dày đặc chữ, tranh ảnh và tư liệu. Không thấy dư luận  nước Mỹ kêu ca vì sách dày, kiến thức nặng nề. Hãy nói với học sinh bằng thứ ngôn ngữ uyên bác, có văn hóa của chốn học đường thì mới mong có được những học trò thông thái. Còn nếu cứ cố nói với các em thứ ngôn ngữ thật đơn giản, nôm na cho dễ hiểu, dễ nhớ đến mức cả các bậc phụ huynh vốn thiệt thòi do không được đi học cũng hiểu được, thì e rằng “hậu sinh” không thể “khả úy” được đâu. Kiến thức nặng đến đâu cũng không quan trọng. Quan trọng là lựa chọn cái gì và dạy thế nào.

Cũng không phải không có đổi mới trong cách dạy, cách học. Nói không đổi mới thì quả là phụ công ngành giáo dục, phụ công các thầy cô giáo dạy lịch sử ở trường phổ thông. Công việc này đã thực hiện từ nhiều năm nay rồi, song hiệu quả không đáng là bao. Nhưng nghiêm túc mà nói, với nội dung sách giáo khoa được biên soạn theo hướng chính trị hóa như vậy, lại thêm chỉ đạo môn học có tính pháp lệnh về cách dạy, cách học, cách kiểm tra, thi cử như hiện nay thì có tài thánh cũng không thể đổi mới để dạy hay, học hay lịch sử được.

Đã làm hỏng môn lịch sử, biến nó từ môn học đầy tính hấp dẫn và bác học, thành một môn học buồn tẻ, khiến cho học sinh chán học, giờ đây thay vì đầu tư làm cho nó hồi sinh, trở về đúng với giá trị chân chính và vinh quang của nó, thì lại nhân đó “tích hợp” để bóp chết nó, liệu có phải là việc làm có trách nhiệm với quốc gia, dân tộc không?
Xóa môn lịch sử, không thảm họa thì là gì?

– GS-TS Đinh Quang Báo, Ủy viên Hội đồng Giáo dục quốc gia nói: “Không nên đặt vấn đề tích hợp là xóa môn học mà chỉ là tạo ra giá trị mới cho môn học. Tôi không nghĩ, môn sử cứng nhắc đến mức chỉ khi đứng độc lập thì mới giáo dục được”. Thầy nghĩ sao về ý kiến này?

– PGS-TS Phạm Quốc Sử: Phát biểu thế nào là quyền của mỗi người, song ý kiến ấy nếu đúng như vậy thì rất nông cạn và mâu thuẫn.

Tích hợp rõ ràng là xóa một số môn học cũ để tạo ra môn học mới, còn biện hộ gì nữa. Đã tích hợp rồi thì làm gì còn môn lịch sử nữa, mà là môn khoa học xã hội, hay “công dân với Tổ quốc”, trong đó có kiến thức lịch sử được sử dụng một cách vụn vặt, chắp vá, trộn lẫn với kiến thức khác. Đề án đã xác định rõ thế rồi. Mà đã xóa rồi thì làm gì còn giá trị mới nữa. Đã xóa rồi thì làm gì còn có thể phát huy tính giáo dục được với tư cách môn lịch sử nữa. Môn lịch sử nếu không “cứng nhắc” đứng độc lập, mà bị hòa tan, bị thủ tiêu rồi thì làm sao còn giáo dục được. Một vài mảnh thân xác vụn rời của nó trong một cơ thể khác, nếu có phát huy được tính giáo dục, cũng là rất hạn chế, nếu không nói là chẳng đáng kể gì.

-Là người làm công tác giảng dạy lịch sử lâu năm, thầy nghĩ sao nếu việc tích hợp môn lịch sử được tiến hành?

– PGS-TS Phạm Quốc Sử:  Nếu việc tích hợp môn lịch sử vào các môn học khác được tiến hành, tôi cho rằng đó sẽ là một hình thái hỗn loạn, sẽ tạo ra những trò cười mới, như lâu nay ta đã chứng kiến. Sách giáo khoa sẽ thay đổi, biên soạn mới, vứt sách cũ, tài liệu cũ đi; việc đào tạo giáo viên lịch sử từ các bậc cao đẳng đến đại học… sẽ phải làm lại toàn bộ, kinh phí tốn kém cho xã hội sẽ không phải là con số 70.000 tỉ đồng mà Bộ đã lộ ra rồi lấp đi như trước đây, mà là vài trăm lần như thế. Nhưng điều quan trọng là sẽ làm hỏng hẳn một nền giáo dục dân tộc. Đến đây thì sẽ là một kịch bản “vỡ nát” và khôi hài từ người dạy đến người học, từ nhà trường đến xã hội về nhận thức lịch sử mà chính những người hôm nay thiết kế và vỗ tay cho “tích hợp” môn lịch sử sẽ phải “im bặt”. Bộ Giáo dục – Đào tạo lúc đó sẽ im bặt. Ngài bộ trưởng hôm nay khi đó đã nghỉ hưu, “hạ cánh an toàn”, còn ngài mới lên sau đó có thể sẽ “nghiêm túc” xin lỗi trước Quốc hội và thanh minh “khi đó tôi chưa phụ trách chính việc này” hoặc “khi đó tôi đang công tác ở nước ngoài”.

-Nếu tích hợp thì các giáo viên, các em học sinh sẽ phải dạy và học như thế nào, thưa thầy?

– PGS-TS Phạm Quốc Sử: Câu hỏi này nên dành cho các tác giả đề án tích hợp môn lịch sử, là Bộ GD-ĐT, và những người bênh vực nó (đề án), bởi tôi là người phản đối thì tôi không hình dung kịch bản việc dạy và học sẽ thế nào.

Theo một người bênh Bộ GD-ĐT, ông nói ý thế này: Việc tích hợp giống như chế biến một “món ăn tổng hợp”! Ông nói, ví như đáng lẽ ta ăn rời từng món: thịt bò, cần tây, tỏi tây, nước mắm…, thì giờ ta cho cả vào xào, được ăn cùng lúc tất cả, mà có khi lại ngon. Cái “khéo” của vị chuyên gia biện hộ lừng danh này là lấy ví dụ từ món xào thịt bò – cần – tỏi vốn đã thông dụng, nhiều người thích. Nhưng cái đáng tiếc là ông lại ví việc tích hợp môn lịch sử, một môn có chức năng giáo dục đặc biệt, đòi hỏi cả tính khách quan khoa học lẫn lý trí và  ý thức dân tộc, với việc chế biến món ăn nghiêng về khía cạnh hưởng thụ và tiêu khiển, khoái khẩu thì “xơi”, không khoái thì nhè ra, gọi nhà hàng đến mắng.

Không chỉ khôi hài, mà sẽ là thảm họa khi món lẩu tổng hợp của ông ấy có thể là thịt gà với mắm tôm và bỗng rượu, thịt chó với cá điêu hồng và đường phèn, trứng gà với dấm thanh và tỏi…, và theo ông ấy, liệu đó có thể là những món khám phá mới, hấp dẫn? Ông nói nhiều nước đã làm thế mà và Việt Nam cũng nên làm theo. Theo tôi, vị chuyên gia này sẽ là người thích hợp nhất để trả lời câu hỏi: Nên dạy và nên học môn tích hợp lịch sử như thế nào?
-Thầy nghĩ sao nếu môn lịch sử bị xóa bỏ?

– PGS-TS Phạm Quốc Sử: Đó sẽ là thảm họa cho dân tộc. Bên ngoài thì Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, một số đảo Trường Sa, bên trong thì xóa môn lịch sử, chặt đứt mối liên hệ giữa lớp trẻ hiện tại với truyền thống cha ông. Trong ngoài như thế không thảm họa thì là gì?

Thực ra, những gì diễn ra hôm nay đối với môn lịch sử cũng đã là thảm họa rồi. Những ngày hân hoan mới giành được độc lập, hay đang vượt qua thử thách thù trong giặc ngoài 1945-1946, chắc không ai tưởng tượng sẽ có ngày học sinh tung hê tài liệu môn lịch sử vì “thoát nạn”, không phải thi môn học buồn tẻ khó nhớ này.

Đấy là thảm họa, nhưng không phải chỉ cho mấy cô giáo dạy môn lịch sử trong trường phổ thông, mà cho tương lai của toàn dân tộc. Một thảm họa khôn lường.

Có người nói: Người không hiểu lịch sử thì không khác gì con trâu. Con trâu thì ruộng nào cũng cày, bởi nó không tự biết mình, nguồn cội mình! Thế mà người ta lại định xóa môn lịch sử, thử hỏi có nguy không?
Không xóa, nhưng phải làm lại, đổi mới căn bản môn sử
-Vậy khi việc “tích hợp” bị phản đối, môn lịch sử nên được giảng dạy trên ghế nhà trường theo cách nào, để không lâm vào cảnh bi đát như những gì từng được nhắc đến trong vài năm qua, thưa thầy?
– PGS-TS Phạm Quốc Sử: Đó là một câu chuyện nghiêm túc.

Thứ nhất, đấu tranh cho môn lịch sử tiếp tục có vị trí độc lập trong chương trình giáo dục phổ thông không có nghĩa là duy trì thực trạng môn học đã bị chính trị hóa đến tê liệt trong nhiều chục năm qua, khiến người dạy loay hoay mãi không thể dạy hay được, người học thì chán ngán. Đã đến lúc phải thay đổi căn bản đối với môn học này, từ nội dung đến phương pháp, chứ không chỉ sửa chữa.

Thứ hai, rất cần thiết phải công bố một cách ngắn ngọn, hàm súc cho xã hội hiểu và phân biệt rõ ba khai niệm: Lịch sử, sử học và dạy – học lịch sử, cũng như mối quan hệ giữa ba điều ấy. Việc này không thừa, bởi ngay trong ngành sử không phải ai cũng đã tỏ, còn trong xã hội thì số người hiểu cực ít. Khi giới lãnh đạo chính trị không hiểu thì sẽ xem nhẹ môn lịch sử và khó có thể giải thích, thuyết phục được.

Thứ ba, lịch sử thì khách quan, nhưng sử học và dạy học lịch sử thì không phải như vậy. Trong sử học, nguyên tắc tối thượng là tôn trọng sự thật, nhưng điều này thường bị vi phạm. Khi sử học bị chính trị hóa thì nguyên tắc trên sẽ bị vi phạm, bởi nó buộc sử học phải quỳ gối phục vụ cho mục đích của chính trị mà có trường hợp dẫn đến xuyên tạc sự thật.

Thứ tư, sử học vinh quang thật, nhưng lại rất dễ phạm phải những căn bệnh nặng, những lỗi không nhỏ. Tiếc thay, sử học nước ta đã không tránh được. Một thứ “sử học nhà nước”, “sử học quốc doanh” (phân biệt với sử học chân chính) đang ngự trị.

Một nhà sử học nổi tiếng nước ta mới mất cách đây vài năm, nói: Sử học ta chẳng có tư tưởng gì. Sợ thật!

Bị biến thành công cụ tuyên truyền, đến mức bị chính học sinh chối bỏ, người dân nghi ngờ, rồi lại chính cơ quan giáo dục quyền lực nhất xóa bỏ. Phải chăng, đó là số phận của một thứ sử học “phải đạo”?.

Bởi thế, ngành sử cần phải làm lại từ đầu.

Thứ năm, sử học thế nào thì dạy học lịch sử cũng gần như thế, bởi dạy học phải sử dụng thành tựu nghiên cứu của sử học, đồng thời cả hai cùng có chung một “bầu trời”, một thể chế. Tư tưởng chỉ đạo cho sử học, đương nhiên cũng được áp dụng cho dạy học lịch sử. Từ rất sớm, sử học và dạy học lịch sử nước ta đã được tiêm những liều “vắc xin” để ngừa những tư tưởng trái chiều. Nhưng liều tiêm khá nặng, khiến cho đối tượng bị tê cứng, hết sinh khí. Để học sinh chán học sử, để giáo viên không thể giảng hay được tức là môn sử hết sinh khí rồi.

Có người bảo ngành sử các ông toàn chạy theo chính trị, chủ yếu là ca ngợi và lặp đi lặp lại, nên rất nhàm. Điều này đúng nhưng chưa đủ. Đúng bởi là lẽ sách vở nhiều, tiến sĩ nhiều nhưng chất lượng sử học rất thấp. Song, thử hỏi, nếu anh bị buộc phải tiêm “vắc xin” anh có chống lại được không? Vả lại, những thành quả “nhàm chán” thì anh mới được đọc, còn những thứ “không nhàm chán” thì không dễ xuất bản, và nếu có thì anh liệu có biết đọc không?

Có người nói học sinh chán sử là tại sách giáo khoa của môn này viết khô khan và một chiều. Điều này đúng. Cả giáo trình đại học nữa chứ, đâu  phải chỉ sách giáo khoa đâu. Mà sách giáo khoa là “rút gọn”, là “hạ cấp” của giáo trình. Người viết sách đã quen tư duy thế rồi. Không khô khan, một chiều sao được khi bị chỉ đạo, bị cạo gọt từ chương trình chung đến từng bài học, hoặc do sợ quá mà tác giả tự cắt gọt cho an toàn.

Có người nói, các thầy cô dạy sử không chịu thay đổi phương pháp nên việc dạy học nhàm chán, học sinh chán học, chất lượng môn sử rơi đến thảm hại. Điều này cũng đúng. Nhưng sự thực, đã có thay đổi bộ phận rồi, nhưng chủ yếu là chuyển từ “đọc chép” sang “nhìn chép” và một vài thứ khác. Song, tài thánh cũng không hấp dẫn được, bởi phải đi theo rãnh chỉ đạo của cấp trên, từ nội dung sách giáo khoa đến các bước lên lớp, giáo án. Có nhiều phương pháp được vận dụng, nhưng chạy đi đâu khỏi khối tài liệu từ đọc thêm đến tranh ảnh, hiện vật, bản đồ, sơ đồ, băng đĩa đều được biên soạn theo cùng một hướng, với vai trò minh họa cho sách giáo khoa. Mọi thứ đều minh họa thêm cho sách giáo khoa, còn sách giáo khoa minh họa cho đường lối chỉ đạo, vậy sáng tạo sao được.

Đã có ý kiến khá hay về phương pháp dạy học thực chứng, dùng tài liệu gốc để khuyến khích học sinh khám phá, tự đưa đến nhận thức bài học lịch sử. Hay, nhưng dùng tài liệu gốc nào đây? Tư liệu gốc có giá trị nhưng “cấm kỵ”, “nhạy cảm” thì không được sử dụng, còn tư liệu không giá trị, không đáng tin cậy, vô thưởng vô phạt thì không dùng còn tốt hơn là dùng. Dẫn học sinh đi thăm bảo tàng ư? Bảo tàng, nhà truyền thống cũng được sắp đặt, được uốn nắn giống như công trình sử học, giống giáo trình, sách giáo khoa và hằng hà sa số tài liệu đọc thêm môn lịch sử. Cứ quyển nọ chép lẫn, xào xáo của cuốn kia thôi, anh chạy đằng trời! Vả lại, tôi bảo anh sáng tạo nhưng anh cứ biết vậy, sáng tạo vừa vừa thôi, anh sáng tạo quá, tôi không kiểm soát được, anh “chệch rãnh” thì sao…

Nhưng xin cảnh báo, ngữ văn và triết học cũng thế. Văn, triết mà chẳng có văn có triết, chẳng có sinh lực gì. Nguyên nhân, thực trạng cũng gần cũng giống như môn lịch sử. Chỉ có điều không bị động đến. Không bị động đến, nhưng không có nghĩa là vô can!

Cụ Hồ nói “dân ta phải biết sử ta” là để “cho tường gốc tích nước nhà”, chứ không phải để càng học càng tối, càng biết càng hoài nghi. Cũng giống như “văn học phải đạo” với công thức dạy văn: Yêu-căm-chiến-lạc (yêu nước, căm thù giặc, chiến đấu, lạc quan tin tưởng), sử học “quốc doanh” không thể làm “cho tường gốc tích”, không làm rạng danh nước nhà  được.

Tóm lại, câu chuyện dạy dỗ thế nào, phương pháp này, nọ vẫn chỉ là phần ngọn của vấn đề. Nếu cứ bàn mãi về phương pháp, cứ trách thầy cô giáo dạy sử thì chỉ là né tránh, luẩn quẩn, thiếu hiểu biết và giỏi “bắt nạt người yếu”. Gốc rễ vẫn là ở tính khoa học độc lập của môn sử, ngành sử. Độc lập ở đây là không bị chính trị hóa, chứ không phải chỉ là môn lịch sử tồn tại độc lập trong chương trình giáo dục phổ thông. Có độc lập thì sẽ có khách quan, khoa học, có cống hiến thực sự cho Tổ quốc, cho dân tộc, cho lẽ sống, sẽ được đời kính trọng, nhà nước nể vì. Có độc lập thì có sáng tạo trong dạy học lịch sử, sẽ có muôn vàn phương pháp tìm hiểu, khám phá lý thú được áp dụng, và học sinh sẽ lại say mê, yêu thích môn học này.

-Xin chân thành cảm ơn thầy!

Thu Anh (thực hiện)

http://motthegioi.vn/tin-tuc/pgs-ts-pham-quoc-su-tich-hop-mon-lich-su-se-la-mot-tham-hoa-khon-luong-258976.html

 

24.Tuấn Khanh: Tôi vẫn tự hỏi ‘Tổ quốc là gì?’

TTTG.VN – Tổ quốc là gì, mà trước khi chết, Frederic Chopin, nhà soạn nhạc lừng danh của Ba Lan (1810 – 1849) cứ khắc khoải dặn dò trong lúc đau yếu, rằng hãy mang trái tim của ông về chôn cất ở quê nhà? Lưu lạc ở Pháp và Anh suốt trong 20 năm, nhưng Chopin luôn ngóng về đất mẹ, kể từ cuộc nổi dậy của người Ba Lan trước ách xâm lược của đế quốc Nga (1831).

Khi nghe tin cuộc cách mạng thất bại, dẫn đến việc hàng ngàn người Ba Lan phải ra đi lánh nạn, Chopin đã khóc và viết bản Etude cung Đô thứ (Op. 10, No. 12), còn gọi là bản etude Cách mạng, để ghi lại như một dữ liệu âm nhạc cho lịch sử đau thương của tổ quốc mình.

Tổ quốc là gì? Tôi vẫn tự hỏi

Với một nghệ sĩ cello tài danh, được cả thế giới chào đón như Mstislav Rostropovich (1927 – 2007), nơi nào cũng có thể là nhà, nhưng năm 1978 khi bị chính quyền Liên Xô cũ tước quyền công dân Nga, không cho trở về quê hương vì thái độ bất đồng chính kiến, ông đã đau khổ nói rằng “Nước Nga mãi trong trái tim tôi. Vậy mà tôi đã không thể quay lại để nhìn thấy tổ quốc và bạn bè của mình”.

Nhưng sau đó, năm 1991, khi Liên Xô tan rã, Rostropovich vội vã tìm cách bay trở lại Nga, xin một khẩu súng để được chiến đấu cho quê hương mình không còn chịu ách độc tài nữa. Lúc đó ông 54 tuổi, và đang được nhiều quốc gia như Anh, Canada, Nhật, Mỹ… sẵn lòng mời ông làm công dân danh dự của nước mình.

Tổ quốc, trong mỗi con người, ắt hẳn đều có những lý lẽ riêng cho sự ràng buộc lạ kỳ đó. Có thể đó là những lý lẽ dài dòng, hoặc chỉ là những cảm giác mơ hồ nhưng khó thể chối bỏ. Tổ quốc có thể gợi nhớ bằng hạnh phúc hay đau thương nhưng ký ức đó thì sẽ mang theo đến tận cuối đời như một món nợ trong tâm thức về nơi chốn.

Năm 2008, trong một bài nói chuyện về lòng ái quốc tại bang Missouri, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã nói với những người rất trẻ về tổ quốc và một tình yêu cho nó “khi đối diện với mất mát và hy sinh, con người trong một đất nước không bỏ chạy, không né tránh mà lại càng gắn kết với nhau hơn để đứng dậy, đó là tình yêu cho tổ quốc”.

Nước Mỹ là một quốc gia phải nói nhiều về tình yêu tổ quốc và giáo dục kiên trì ý tưởng đó, bởi đó là quốc gia của những người nhập cư, bao gồm nhập cư từ chính các nước có tư tưởng thù địch với họ. “Hãy bắt đầu bằng những ký ức đẹp đẽ nhất mà bạn đã sống trên đất nước này, gìn giữ nó bằng cảm giác đơn sơ nhất, thậm chí có thể bỏ ngoài tai các lời tuyên bố hay tranh cãi của các chính trị gia”, ông Obama nói.

Tổ quốc – đất mẹ

Thật bí ẩn khi đem vào tâm trạng của con người nỗi buồn ngập đến lúc ra đi, khi thấy mình bất lực. Nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1888 – 1939) lúc say, đã giắt tấm bản đồ nước Việt rách ở lưng quần, lang thang ca hát nghêu ngao “Dù như sông cạn đá mòn. Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa” (Thề non nước).

Đất mẹ dưới ách thực dân, quan tham dẫy đầy, quân dữ lao nhao, người Việt không còn thương nhau, tổ quốc điêu linh, người trí thức nếu không viết xuống bằng thơ văn, thì biết phải làm sao?”

Tổ quốc là gì mà đời mình phải nhớ, đời sau phải giữ? Nguyễn Phi Khanh (1335 – 1428) khi kháng chiến chống quân Minh xâm lược nước Việt bị bắt, giải qua biên giới chịu tội đã quay lại dặn Nguyễn Trãi (1380 – 1442) rằng hãy quay về tìm cách diệt giặc cứu giang sơn. Trong Hận Nam Quan của nhà thơ Hoàng Cầm có hát lại lời xưa: Về ngay đi, ghi nhớ hận Nam Quan./ Bến Kim Lăng cho đến ngày nhắm mắt,/ Cha nguyện cầu con lấy lại giang san…

Với những người ghi danh trong lịch sử thì đã vậy, còn với từng con người Việt bình thường, tổ quốc là gì trong trái tim họ? Cô bạn có hơn 20 năm sống ở nước ngoài nói mỗi khi gần Tết Việt, nghe một khúc nhạc quê, nghe mùi hương trầm lại dậy lên nỗi nhớ nhà kinh khủng. Tổ quốc như một vết cắt trong tim, tưởng đã lành với nhiều người đi xa, nhưng không ngờ cứ nhói lên khi nghĩ đến.

Trong các cộng đồng người Việt xa quê, ngày Tết là ngày không thể quên. Nhiều khi Tết chỉ nằm trong trí tưởng tượng, Tết là ngày phiền toái vì phải trữ trong nhà những món ăn dài ngày không đúng theo luật vệ sinh của phương Tây, phải giải thích thật dài dòng cho lũ trẻ về một đất nước với nhiều huyền thoại mà ngày thường chúng không quen.

“Làm sao Việt Nam lại có những câu chuyện kỳ quái như một đôi vợ chồng lại đẻ ra trứng?” – “Nó là huyền thoại để ghi nhớ, để tìm hiểu về một quê hương có thật – mà dù lạ lùng đến thế nào chúng ta sẽ chấp nhận, phải giữ gìn, vì đó là nơi ông cha chúng ta sinh ra”, tôi nghe người cha trong gia đình giải thích cho đứa con sắp vào đại học, nói tiếng Việt đã ngọng nghịu.

Những câu chuyện về Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Quang Trung, Nguyễn Ánh… là gia sản lớn nhất mà các bậc phụ huynh có thể tự hào nói với con cái mình – ở những vùng đất mà trẻ con hội nhập cuộc sống mới luôn nhanh và giỏi hơn, thậm chí dạy lại cho cha mẹ.

Quả là từng người Việt vẫn giữ gìn cho mình những điều không giải thích được về đất mẹ, dù khó lý giải được tận cùng các ý nghĩa. Cũng như mỗi người dù đi đâu, nơi nào, vẫn mang trong tim một gánh nặng yêu thương bí ẩn về quê hương, không dễ từ bỏ.

Lễ, Tết trong đời sống Việt xa quê, chỉ là dịp để gặp lại, để nhớ, để kết nối trong trí nhớ những ràng buộc mơ hồ về quê hương – mà đôi khi phải cố quên, nhưng thật dễ bùng lên thương nhớ. Một người bạn đã sống hơn 30 năm ở Mỹ kể rằng những năm 1970, số người Việt cứ báo bệnh, đồng loạt nghỉ vào ngày Tết âm lịch khiến nhiều công ty, hãng xưởng hoang mang, báo cho các cơ quan y tế về một bệnh dịch bí ẩn.

Sau này khi hiểu ra, nhiều nơi cũng châm chước vì đó là ngày không thể thiếu với cộng đồng Việt Nam. “Đôi khi, nghỉ cũng chẳng làm gì. Về nhà pha một ấm trà, ăn một cái bánh chưng và mất một ngày lương nhưng lại thấy vui, vì đó là phong tục xứ mình, phải giữ”, anh bạn Việt kiều kể lại.

Trong lịch sử hơn 2.000 năm không tổ quốc của người Do Thái. Tổ quốc – đất mẹ, là sự khắc khoải, là giấc mơ tìm về không ngừng nghỉ của nhiều thế hệ. Từ những năm 60 trước Công nguyên, bị đế quốc La Mã xâm lược và xoá tên khỏi bản đồ thế giới, người Do Thái đã lưu lạc khắp nơi, và dù thành đạt ở đâu, đã quần tụ nơi nào… họ vẫn khát khao dựng lại quê nhà.

Trong Bài học Israel của nhà văn hoá Nguyễn Hiến Lê, điều mà mỗi người Do Thái cầu nguyện trước bữa ăn hay chào nhau, đều là “năm sau về Jerusalem”. Con cháu của những kẻ mất quê hương đó luôn được nghe và dạy nói như vậy, để biết và nhớ rằng mình có một tổ quốc.

Thật tuyệt vọng và viển vông với những người Do Thái góp tiền mua lại đất đai ở Palestine, dọn về xây dựng từ khô cằn và hoang mạc. Từ thế kỷ 19 đến sau đệ nhị Thế chiến, đến năm 1948 người Do Thái mới có cơ hội reo mừng dựng cờ trên đất mẹ, dù chung quanh đầy những quốc gia với tình trạng thù địch. Hôm nay, câu chào “năm sau về Jerusalem” vẫn được nhắc lại như một ký ức kiêu hãnh độc tôn của một dân tộc không từ bỏ tổ quốc của mình, dù trải qua ngàn năm quay quắt mong đợi.

Năm sau đến Hoàng Sa

Tôi có một người bạn ở Hà Nội, mà cứ thỉnh thoảng lại thấy ông treo hàng chữ “Năm sau đến Hoàng Sa”. Đó là một người sống cả đời vẫn chưa bao giờ có dịp ra biển đến gần Trường Sa hay Hoàng Sa. Nhưng sự âm vang trong lời hẹn của ông lại là sự khắc khoải kỳ quái đến mức suy nghĩ luôn luẩn quẩn về hai chữ Tổ quốc.

“Năm sau đến Hoàng Sa”, khẩu hiệu ấy đủ sức làm những ai nhìn thấy phải bật nhớ đến biển, đến mộ gió, đến những cái chết oan khiên của ngư dân và thanh niên người Việt được trao trách nhiệm gìn giữ quê hương mình. Đúng là chúng ta đã mất mát quá nhiều, nên đã đến lúc chúng ta cần đứng lại, cùng nhau, trên quê hương này.

Năm nay, tôi lại thấy người bạn đó treo cao câu “Năm sau đến Hoàng Sa”. Thật thú vị, tôi cũng thấy thêm một vài người treo khẩu hiệu đó. Hoá ra những người khắc khoải về quê hương không cô độc, dù là số ít. “Đến Hoàng Sa” chỉ là một khái niệm. “Đến Hoàng Sa” là con đường rất dài – có thể dài hơn con đường đến Jerusalem, có thể dài hơn cả 2.000 năm của người Do Thái, nhưng đó là con đường của những người yêu tổ quốc mình.

Nhiều năm, tôi vẫn không thể nào giải thích được trọn vẹn về ý nghĩa “tổ quốc”. Nhưng trong trí tưởng tượng của mình, tôi nhìn thấy đó là một ngôi nhà chung của bà mẹ Việt đã sinh ra rất nhiều đứa con.

Như trong câu hát Mẹ năm 2000 của nhạc sĩ Phạm Duy, có đứa đã là bạo chúa, có đứa là kẻ hèn, có đứa tham lam muốn bán đứng chính ngôi nhà của mẹ mình… nhưng dẫu thế, những đứa con còn lại rồi sẽ chung tay dựng lại, làm lại từ đầu, dù là tro tàn. Ngôi nhà đó – đất mẹ – và anh chị em tôi, tôi gọi tên, là Tổ Quốc.

Tuấn Khanh

http://tiepthithegioi.vn/goc-nhin/tuan-khanh-toi-van-tu-hoi-to-quoc-la-gi/

 

 25.NGHĨ VỀ MỘT THÁI ĐỘ

ĐỐI VỚI CÁC NHÂN VẬT LỊCH SỬ

Trần Văn Chánh

Truong Vinh KyNhân vật lịch sử thường được hiểu là những đã người sống trong quá khứ từng có tham gia nhiều ít và về mặt này mặt khác trong quá trình diễn tiến của lịch sử, không phân biệt hoàn cảnh xuất thân hay lý lịch tốt xấu (“trung/ nghịch, chánh/ ngụy”, “yêu nước/ phản quốc”, “tiến bộ/ lạc hậu”, “cách mạng/ phản động”…). Nhân vật lịch sử vì thế không nhất thiết phải là danh nhân, đều là con người nên có mặt tốt mặt xấu, có những lúc yếu mềm lầm lỗi, nhưng tất cả đều có vai trò riêng trong một bối cảnh lịch sử nhất định.

Ở nước ta đã có một vài công trình biên soạn tổng hợp về nhân vật lịch sử, với sự xuất hiện trong đó đủ loại nhân vật thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động và khuynh hướng tư tưởng, chính trị khác nhau. Vì không phân biệt lý lịch tốt xấu, có công đóng góp xây dựng hay gây hại cho dân tộc, nên sách viết về nhân vật lịch sử, nhất là ở thể loại từ điển, cần có sự trung thực, mô tả khách quan tiểu sử, hành trạng của từng nhân vật dựa trên càng nhiều càng tốt những tài liệu xác thực còn có thể kiểm chứng được, rồi có sao kể vậy theo một trật tự logic mạch lạc, và nếu có thể, diễn tả một cách hấp dẫn, chứ không nên và cũng không cần đưa ra những nhận định đánh giá gắt gao này khác theo nhận thức chủ quan hay định kiến giáo điều của người biên soạn. Những công trình biên soạn về nhân vật lịch sử vì thế tuyệt đối tránh óc đảng phái, “bài xích dị kỷ” (công kích loại trừ những kẻ khác mình), đơn giản chỉ vì hoàn cảnh quá khứ khác hoàn cảnh hiện tại, mà nhận thức, hành vi của từng nhân vật lịch sử thì luôn không thể tách khỏi hoàn cảnh độc đáo cá nhân cũng như bối cảnh lịch sử cụ thể mà nhân vật đang sống.

Ví như thời Trịnh-Nguyễn phân tranh (từ giữa đầu thế kỷ 17) bên cạnh vua Lê thì người Việt Nam đương nhiên cơ bản chia làm 2 phe (không có 2 phe thì lấy gì đánh nhau?). Bước sang giai đoạn tranh hùng giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh (cuối thế kỷ 18) thì cũng có hai phe kình chống nhau quyết liệt và mỗi bên đều có những anh hùng của mình (như Võ Tánh, Ngô Tòng Châu… của Nguyễn Ánh; Võ Văn Dũng, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân… của Tây Sơn, hoàn cảnh giữa họ tuy khác khau nhưng ai nấy đều có nhân cách/ chí tiết đáng trọng). Trong thời Pháp thuộc (tạm tính từ hòa ước Patenôtre 1884 và sau cuộc binh biến 1885 ở Huế kết thúc cuộc chiến tranh xâm lăng của Pháp) thì trừ đại đa số quần chúng nhân dân không tên tuổi ra, số người nổi tiếng đáng gọi nhân vật lịch sử đương nhiên phải chia làm nhiều thành phần khác nhau, tùy hoàn cảnh: một số làm việc cho chính quyền thuộc địa, một số phục vụ trong bộ máy triều đình phong kiến cũ của các vua, và số khác nữa không chấp nhận số phận nô lệ của bản thân và của dân tộc đã đứng ra tổ chức kháng chiến hoặc theo quân kháng chiến chống Pháp trong các phong trào yêu nước. Sau hiệp định Genève 1954, đất nước tạm thời chia đôi ở vĩ tuyến 17 hình thành thế cục đấu tranh Nam-Bắc với nhiều lý do rất ngoắt ngoéo phức tạp thì nhân vật lịch sử, gồm các tướng tá và công chức dân sự bậc trung-cao của mỗi bên đương nhiên cũng phải chia thành 2 phe phục vụ cho công việc/ mục đích chính trị mỗi bên, không thể có chuyện số lớn người sĩ quan VNCH vượt tuyến ra Bắc phục vụ cho chế độ XHCN miền Bắc, cũng như ngược lại không thể có số lớn cán bộ CS trốn vào miền Nam để kiếm sống (ngoại trừ việc lúc đó họ được phân công vào Nam vì lý do chiến tranh).

Cái chung hơn hết là hoàn cảnh cá nhân cũng như hoàn cảnh lịch sử-xã hội mà cá nhân bị chi phối và phần lớn thường rất khó chủ động thoát ra được. Chúng ta không thể đòi hỏi các nhà văn hay cán bộ nghiên cứu ở các trường, viện ngoài Bắc giai đoạn 1954-1975 hiểu thấu hoặc hiểu đúng về lịch sử Việt Nam vì cuốn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim và những sách tương tự đều bị cấm đọc. Những nhân vật lịch sử có công đóng góp lớn cho nền văn hóa dân tộc như Trương Vĩnh Ký, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, nhóm Tự Lực Văn Đoàn (Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo…)… thì hầu như ít ai được biết tới, hoặc chỉ biết lơ mơ sai sự thật. Các học thuyết khác ngoài chủ nghĩa Mác-Lênin về văn học, triết học, kinh tế học (thị trường) của nhân loại thì lại càng không thể… Cho nên bây giờ nhìn lại với quan điểm thông thoáng hơn, cần phải có sự cảm thông chân thành và đúng liều lượng đối với một số anh em trí thức miền Bắc, trong khoảng thời gian mấy mươi năm, về những mặt hạn chế tri thức và tư duy giáo điều mà không ít người trung thực đã thú nhận có thời gian họ đã vấp phải, vì tất cả đều do hoàn cảnh cá nhân và nghịch cảnh ngoắt ngoéo của lịch sử dân tộc này mà ra.

Trong lịch sử, tính cách của cá nhân và hoàn cảnh sống của mỗi con người là rất quan trọng, khó có thể ai nói tài hơn ai. Bẩm tính, năng khiếu, bản lĩnh và xu hướng hoạt động theo ngành nghề gì cũng rất khác nhau. Có người chịu làm chính trị, tham gia quốc sự, dám chịu tra tấn tù đày vì việc nước, đáng gọi anh hùng, thì cũng có người tuy vẫn âm thầm yêu quê hương xứ sở, biết đau xót vì thân phận dân tộc bị nô lệ, nhưng kém bản lĩnh chiến đấu, không dám xông pha chiến trận, sợ thấy chém giết…. Dạng người này, không ít trong mọi xã hội mọi thời đại, muốn được sống bình yên, chỉ mong “cẩu toàn tính mệnh ư loạn thế”, nên họ có khuynh hướng tìm những việc làm thích hợp trong khối dân sự ít thấy đổ máu, bằng cách “trốn quân dịch”, tham gia các hoạt động văn hóa giáo dục, hoặc thậm chí… đi tu: nếu tiêu cực là để lánh cuộc đời xào xáo, còn tích cực là để hoằng pháp, giảng đạo với hi vọng cứu đời bằng con đường xây dựng đạo đức cho tha nhân theo hướng hòa bình lương thiện. Cụ Đào Duy Anh là một dạng người có phần tương tự như vậy, lúc đầu hăng hái làm chính trị cách mạng, từ khoảng năm 1926, nhưng vì ngại cảnh tù đày tra tấn, đã xoay ra hoạt động văn hóa suốt mấy mươi năm, bằng hoạt động giáo dục và khảo cứu, đóng góp được rất nhiều cho xã hội qua những công trình bất hủ…(xem Phan Huy Lê, “Đào Duy Anh, hành trình gian truân của một nhà sử học”, tạp chí Xưa Nay, số 459, tháng 5.2015, tr. 9-19). Giả định cụ Đào tiếp tục làm chính trị và bị thực dân Pháp bắt xử tử, thì câu chuyện về cụ đã chuyển sang hướng khác hẳn, có thể được phong “liệt sĩ”, nhưng xét cho cùng, với tâm chất, tính cách học giả thứ thiệt như cụ thì trước hay sau gì cũng không thể làm chính trị thành công được. Cho nên cũng không thể nói Nguyễn Thái Học lên đoạn đầu đài (năm 1930) vì chống thực dân Pháp bất thành là yêu nước và anh hùng hơn cụ Đào Duy Anh được, vì hình thức lựa chọn việc làm của hai người khác nhau, theo những khuynh hướng, nhân sinh quan, điều kiện, hoàn cảnh, năng lực, tâm chất cá thể không giống nhau.

Cho nên ở đây cũng cần có một cách nhìn thông thoáng hơn về khái niệm yêu nước. Không phải không có loại nhận thức khá ấu trĩ và phiến diện cho rằng yêu nước chủ yếu gắn với tinh thần bất khuất, hi sinh dũng cảm chiến đấu thắng lợi vẻ vang, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng…, thay vì lẽ ra nên nhấn mạnh nhiều hơn đến khía cạnh yêu nước ở lòng tự trọng, ước muốn hoàn thiện bản thân-rèn luyện nhân cách, ý thức chấp hành bổn phận và kỷ luật…, thể hiện qua những hành vi bình thường hằng ngày của công dân, trong mỗi hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhất định.

Cũng phổ biến có loại quan niệm về yêu nước, về chủ nghĩa anh hùng phân biệt theo đảng phái hay giai cấp, cách mạng vô sản hay cải lương tiểu tư sản… Chẳng hạn, cho rằng yêu nước theo kiểu một số nhà văn nhóm Tự Lực Văn Đoàn là nhuốm màu tiểu tư sản, phải bài bác, phủ định, trong khi thật ra nhóm này chỉ chủ trương rất đơn giản: yêu nước là yêu tha thiết đám nông dân nghèo khổ dốt nát cày sâu cuốc bẫm chiếm đa số trong thành phần dân tộc, phải nỗ lực tìm mọi cách vận động để giúp đỡ, nâng cao đời sống của thành phần xứng đáng đại diện cho dân tộc này lên, hầu mang lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho họ (nói trong Đoạn tuyệt của Nhất Linh, Con đường sáng của Hoàng Đạo…).

Trở lại vấn đề thái độ đối với nhân vật lịch sử, thấy có loại quan niệm hẹp hòi đơn giản, đại khái, phàm hễ ai theo Nguyễn Ánh chống Tây Sơn hoặc thuộc hàng ngũ vua quan triều Nguyễn, người theo đạo Thiên Chúa, người làm công chức cho Pháp, không chống Pháp hoặc chủ trương “Pháp-Việt đề huề” (như Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu…), người theo các đảng phái “quốc gia”… thì cơ bản nếu không bị coi “nối giáo cho giặc” thì cũng sai lầm hèn kém tệ hại tất tần tật (trong khi đó thật ra, vua quan triều Nguyễn, ngay từ thời Tự Đức, trước sau đều đã chống Pháp rất dữ, nhưng thất bại vì thời đại chủ nghĩa tư bản lúc đó đang bành trướng với lực lượng quân sự rất mạnh…). Với cách nhìn nhận và ứng xử này, sau ngày 30.4.1975, khi chiến tranh Việt Nam vừa chấm dứt, “bên thắng cuộc” đã cho hủy bỏ hết thảy các tượng đài, tên đường, tên trường học… mang tên những nhân vật lịch sử có lý lịch dính dáng như trên, và dường như chỉ chừa lại vài ba con đường mang tên Hoàng Diệu, Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn (đều ở quận 4, TP. HCM) đơn giản vì các vị đại thần này mặc dù cũng quan lại triều Nguyễn nhưng lại tiêu biểu cho phái chủ chiến chống Pháp quyết liệt: người thì như Hoàng Diệu quyết tử bảo vệ thành Hà Nội khi Pháp tấn công năm 1882, còn Tôn Thất Thuyết thì đã cùng với Nguyễn Văn Tường tổ chức cuộc binh biến 1885 ở Huế làm cho quân ta chỉ trong một đêm 4.7.1885 vừa chết thảm vừa bị thương đến số vạn, thây phơi đầy đường, hàng đống người “cụt tay, cụt chân, lòi ruột, toạc đầu, quằn quại trong vũng máu”, vua Hàm Nghi phải xuất bôn chạy ra căn cứ Tân Sở, nhưng vẫn không đạt được mục đích như mong muốn (xem Lưu Anh Rô-Lê Anh Tuấn, “Tìm hiểu cuộc chính biến kinh thành Huế…”, tạp chí Xưa Nay, số 459, tháng 5.2015, tr. 42-47). Để ý ra, chúng ta thấy, theo quan điểm “chính thống”, dường như hễ ai chủ chiến, quyết tử đều coi như lý lịch tốt, xếp vào “phe ta”. Điều này hoàn toàn đúng, nhưng sẽ càng đúng hơn nếu người ta không vì đó mà phủ nhận sạch trơn những người không chủ chiến, không hi sinh liều chết do sự run rủi cá nhân hoặc do hoàn cảnh sống trong một xã hội cụ thể khiến phải có những lựa chọn khác.

Cách làm việc khách quan của các ban biên tập từ điển nước ngoài cũng thế, chẳng hạn từ điển Larousse nổi tiếng lâu đời của Pháp, phần nhân vật Việt Nam nếu miền Bắc có Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… thì trong Nam cũng có Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu… Vì vấn đề chủ yếu là giúp cho người sử dụng từ điển tra trong đó để biết nhân vật X nào đó là ai, chứ không để đường lối chính trị-ngoại giao nhất thời chi phối. Được biết, trong bộ Britannica Concise Encyclopedia vừa có bản dịch tiếng Việt gần đây với tên gọi Từ điển bách khoa Britannica (NXB Giáo Dục, 2014), phần nhân vật Việt Nam cũng có đủ hai phe (gồm 8 người, xếp theo thứ tự A, B, C…): Bảo Đại, Hồ Chí Minh, Lê Lợi, Ngô Đình Diệm, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp (xem Nguyễn Việt Long, “Chuyện kể từ người tham gia làm Britannica tiếng Việt”, báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần, 5.7.2015, tr. 27).

Nhân vật lịch sử, xét về phương diện việc làm của họ trong quá khứ và trong tương quan với quyền lợi cộng đồng, quyền lợi dân tộc, lẽ tất nhiên cũng có người tốt, kẻ xấu, cần được mô tả khách quan, đúng sự thật, để cho thế hệ trẻ hiện tại qua đó nhận xét, đánh giá. Chẳng hạn Trần Bá Lộc (18391899) là một cộng sự viên đắc lực của thực dân Pháp khét tiếng trong việc đàn áp nhiều cuộc khởi nghĩa yêu nước ở miền Nam Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ 19 thì chẳng ai dám khen là tốt cả, nhưng khi viết tiểu sử, cũng không được bỏ qua sự kiện hệ thống kênh đào do ông chỉ huy đã đem lại lợi ích to lớn cho vùng đất Đồng Tháp Mười… Nói chung, đối với nhân vật lịch sử, ai cũng vậy, phải nêu đủ cả những mặt tốt, xấu của họ ra cho mọi người biết dựa theo sử liệu chính xác, chứ không nên vì định kiến hoặc giáo điều nào đó mà dùng lời lẽ phê bình theo kiểu mạt sát, thiếu lễ độ đối với các bậc tiền bối đã ra người thiên cổ.

     Ở thời hiện tại có người tốt, kẻ xấu thì trong quá khứ lịch sử cũng vậy thôi, không bao giờ có toàn người tốt hay toàn kẻ xấu. Gương lịch sử hữu ích ở chỗ biết nhìn vào đó để soi rọi, rút tỉa kinh nghiệm cho việc làm hiện tại, bằng cách chú ý mặt tốt để khích lệ các thế hệ hậu bối, còn mặt xấu vẫn kể ra cho biết nhưng cũng chẳng có gì cần phải làm ầm ĩ quá đáng, như số ít tờ báo, tạp chí những năm gần đây đã làm rất hăng hái và đầy định kiến đối với một số nhân vật thuộc diện “phức tạp” vì có lý lịch liên quan triều Nguyễn, thực dân Pháp, đạo Thiên Chúa…, nổi bật như vua Gia Long, các ông Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh…

Lạ nhất là trường hợp Trương Vĩnh Ký (1837-1898), thiết tưởng cũng nên nêu điển hình để luận giải cho vấn đề đang xét, vì gần đây có vài sự kiện dính đến tên ông mà ông bị vài tờ báo, tạp chí lôi ra chỉ trích, trong khi cả nước đều coi ông là nhân vật lịch sử tiêu biểu, nhà bác học, danh nhân văn hóa xuất sắc hiếm hoi của vùng đất mới Nam Bộ với nhiều đóng góp cho sự nghiệp văn hóa đất nước, được chọn để đặt tên đường phố và tên trường học ở nhiều nơi, đặc biệt tại TP. HCM. Năm 1941 từng được nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan đưa vô hàng đầu sách Nhà văn hiện đại trong số “Các nhà văn đi tiên phong”, với lời nhận xét khẳng định chắc nịch: “Trương Vĩnh Ký thì thật là một nhà bác học. Ông không những là một nhà văn, một nhà viết sử, một nhà dịch thuật, mà lại còn là một người rất giỏi về khoa ngôn ngữ học. Ông thật xứng đáng làm tiêu biểu cho tất cả những người sốt sắng với quốc văn lúc đầu ở Nam Kỳ; sự nghiệp của ông, chúng ta không thể nào không biết đến được” (Nhà văn hiện đại, Tập I, NXB Thăng Long, Sài Gòn, 1960, tr. 37). Sách chuyên khảo bằng tiếng Pháp và tiếng Việt về sự nghiệp văn hóa của Trương Vĩnh Ký đến nay đã có đến số chục (như của một số tác giả: Jean Bouchot 1927, Đặng Thúc Liêng 1927, Khổng Xuân Thu 1958, Nguyễn Sinh Duy-Phạm Long Điền 1975, Nguyễn Văn Trấn 1992, Nguyễn Văn Trung 1993, Bằng Giang 1994, Trần Thị Nim 1998, Hoàng Lại Giang 2001, Tạp chí Xưa Nay [chủ biên] 2002/2006…).

Thế nhưng, vì lý do để công kích nội dung một cuốn sách trong đó có tiểu sử Trương Vĩnh Ký, một tác giả đã viết: “Trương Vĩnh Ký là một điển hình của giới trí thức học cao biết rộng, phục vụ đắc lực cho chủ nghĩa thực dân Pháp, không có chỗ đứng trong lịch sử văn hóa nước nhà (TVC nhấn mạnh), nhưng trong cuốn sách này coi ông như một ‘nhà bác học’ ‘có cống hiến to lớn trên nhiều lĩnh vực văn hóa cổ kim Đông Tây’” (xem Tuần báo Văn Nghệ TP. HCM, số 343, ngày 5.3.2015, tr. 11).

Cũng trong tháng 3.2015, Trương Vĩnh Ký lại bị thêm một đợt “tấn công” dồn dập, nhân sự kiện họ Trương được tôn vinh là nhân vật kiệt xuất có công đối với văn hóa Việt Nam, trong dịp tổ chức Giải thưởng Phan Châu Trinh của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh do bà Nguyễn Thị Bình và nhà văn Nguyên Ngọc chủ xướng. Một tờ tạp chí đã dành liên tiếp 2 số báo để vừa công kích Giải thưởng Phan Châu Trinh vừa nêu lên những mặt xấu, hạn chế của Trương Vĩnh Ký, nhưng chủ yếu nói ông là tay sai đắc lực của thực dân Pháp, và “vấn đề là ở chỗ Trương Vĩnh Ký hoàn toàn không xứng đáng…” (Tạp chí Hồn Việt, số 92, tháng 5.2015, tr. 51). Ngoài ra, tạp chí còn cho trích dẫn một số tài liệu, bức thư của Trương Vĩnh Ký chứng tỏ ông rất trung thành với nước Pháp và qua một số công trình biên soạn đã tận tâm đắc lực trong nhiệm vụ giúp thực dân Pháp thi hành chính sách đồng hóa dân tộc Việt.

Đọc một số tài liệu trưng dẫn kể trên, có những câu như “lòng tôi luôn thuộc về nước Pháp”, “Người bề tôi tận tâm và vâng lời”… (Hồn Việt, tlđd., tr. 67), chúng ta ngày nay chắc chắn sẽ ít nhiều cảm thấy như bị dị ứng khó chịu, và tự ái nữa, liên tưởng đến những lời ca tụng tương tự sau này của hậu bối Phạm Quỳnh (1892-1945) đối với nước “Đại Pháp”, nhưng nếu bình tĩnh đứng trên một quan điểm cận nhân tình hơn để xem xét, sẽ thấy vì đều là công chức của Pháp, các ông đương nhiên phải phát biểu những câu sáo thưa gởi như vậy là chuyện rất bình thường, theo kiểu “ăn cây nào rào cây nấy”, để được việc, như trong một số trường hợp khác người ta phải dùng những cụm từ đôi khi còn sống sượng hơn để ca tụng chế độ mình đang phục vụ. Dù thế nào chăng nữa, không thể chỉ vì vài bức thư hay những câu sáo ngữ như thế mà các ông không còn là danh nhân văn hóa của nước Việt, vì phần đóng góp của các ông chủ yếu trong phạm vi văn hóa giáo dục chứ không phải quân sự hay chính trị. Thực tế cho thấy, trong điều kiện Pháp thuộc, hầu hết nhân tài Việt Nam trên mọi lãnh vực hoạt động đều được đào tạo từ nền giáo dục mới của Pháp, mà một số không ít trí thức về sau đã trở thành những nhà hoạt động chống Pháp tích cực (Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường…). Tương tự như vậy, khi Pháp đặt ách thống trị lên các quốc gia nhược tiểu thì cũng có hai mặt lợi hại đi liền theo nhau: ngoài chuyện bóc lột, họ cũng đương nhiên để lại, dù muốn hay không, một số di sản hữu ích cho các dân tộc bị trị như khoa học-kỹ thuật, giáo dục, y tế, giao thông công chính, hành chính…hiện đại, và đặc biệt là những tư tưởng về tự do dân chủ và cách mạng.

Riêng nhân vật Trương Vĩnh Ký, vấn đề nằm ở chỗ, dù thật sự trung thành với thực dân trong tư cách công chức Pháp thì ông vẫn là một người Việt Nam có cuộc sống đạo đức nghiêm chỉnh, cả đời học giả chỉ biết căm cụi nghiên cứu, trước thuật một cách hoàn toàn lương thiện, lại thường bị thiếu túng, thiếu nợ nhà in vì sách báo in ra bán không chạy…, không nghe ai nói ông có lem nhem gì đối với công quỹ, hay làm bất cứ hành động gì có hại cụ thể cho nhân dân lao động. Còn chuyện năm 1886, Trương Vĩnh Ký được Toàn quyền Paul Bert cử vào Huế làm việc ở Viện Cơ mật, nếu không phải họ Trương thì cũng phải có một nhân vật lịch sử Việt Nam nào khác. Giả định Trương Vĩnh Ký lúc 8 tuổi không có cơ duyên theo đạo Công giáo và được đưa đi du học nước ngoài, thì ông cũng chỉ trở thành một đứa bé chăn trâu làm ruộng, giống như mọi đứa trẻ chăn trâu khác sống ở cái ấp Cái Mơn nghèo khổ khỉ ho cò gáy của tỉnh Vĩnh Long mà thôi, làm gì có những công trình văn hóa đồ sộ mà nhiều thế hệ đã được thừa kế và thụ hưởng?

Bình luận về con người trong lịch sử vì thế không thể thiếu sự thông đạt chính trị nhân tình, và đức công bằng, luôn biết đặt con người vào trong hoàn cảnh cá nhân cụ thể cùng với những mối tương tác nhân quả trùng trùng duyên khởi của các sự kiện chi phối bên ngoài, từ đó có được quan điểm phóng khoáng khoan dung, biết hòa giải với quá khứ trong tinh thần cởi mở để hướng đến hiện tại và tương lai, chứ không nên chỉ chuyên moi móc quá khứ với các kiểu thái độ cực đoan, phiến diện, căm thù, chỉ gây thêm mầm mống chia rẽ trong lòng dân tộc, và vì thế cũng không thể đạt được sự hòa giải đích thực trong hiện tại được.

12.7.2015

Nguồn: Bán nguyệt san Văn Hóa Phật Giáo, số 230 (1.8.2015)

 

26.Ngàn Trước Tới Ngàn Sau

Nguyễn Xuân Nghĩa

Nhớ lại những gì từ ngàn năm Thăng Long”
Con người ta có trí nhớ rất kém nên thường chú ý đến biến cố lịch sử gần với thời đại cùa mình mà coi thường chuyện sinh tử của thời xa xưa.
Khi bị Thục Phán tấn công và vua Hùng vương thứ 18 phải nhảy xuống giếng tự trầm, nước ta có thể đã rơi vào vòng Bắc thuộc. Năm Thục Phán xưng Vương trên lãnh thổ Văn Lang đó là 257 trước Tây lịch. Thời Bắc thuộc khởi sự từ đó chăng” Rất đúng nhưng còn mơ hồ, vì ta biết quá ít về Thục An Dương Vương.
Thế rồi, khi viên tướng Tần là Triệu Đà nhân nước Tầu có loạn mà chiếm lấy vùng Lĩnh Nam của Trung Hoa rồi thôn tính nhà Thục, từ năm 214 trước Tây lịch, thì thời Bắc thuộc mới thực sự bắt đầu… Hợp lý hơn nhiều. Nhưng chắc chắn nhất là khi cháu chắt Triệu Đà dâng nước ta cho triều Hán thì nước Nam đã mất chủ quyền. Thời điểm ấy là năm 111 trước Tây lịch, con số dễ nhớ cho bầy hậu sinh chóng quên!
Thế thì từ năm -111 đến khi Ngô Quyền xưng Vương năm 939, dân ta đã trải 1.050 năm Bắc thuộc. Rồi lại vùng ra được. Trên thế giới, có bao nhiêu trường hợp như thế”
Ngay tại chỗ, trong 10 thế kỷ, đất Lĩnh Nam – miền Nam núi Ngũ Lĩnh – hay “Quảng Châu” và các thị tộc “Bách Việt” sống trên đó đều dần dần bị Hán hóa, bị đồng hoá. Nếu còn, thì nay là thiểu số vô cùng tuyệt đối. Đất “Giao Châu” của ta (như tên gọi sau này) lại làm ngược: Việt hoá những người Hán trôi dạt xuống miền Nam, hoặc được phái xuống cai trị dân Nam.
Xin đọc lại: Trong ngàn năm Bắc thuộc, bên dưới những nỗ lực đấu tranh để giành quyền tự chủ – của các nhân vật lịch sử Trưng, Triệu, Lý, Mai, v.v… – là sự tranh đấu âm thầm của người Việt nguyên thủy và cả những người Hán được Việt hoá (Lý Bôn là một thí dụ) để giữ bản sắc riêng và chống lại sự đồng hoá. Đấy là hiện tượng đáng chú ý mà cứ hay bị lãng quên.
Bấy giờ, kể từ năm 939, đã có quyền tự chủ rồi, dân ta mới xây dựng nền độc lập, một tiến trình cũng rất chậm rãi và đầy loạn lạc.
Chỉ vì, từ nhiều nhóm nhỏ – các thị tộc, hào trưởng hay thế lực địa phương cả Hán lẫn Việt lẫn Hán-Việt – hết bị vương triều phương Bắc chi phối nữa, “dân ta” phải kết hợp lại để xây dựng “quốc thống”, một chế độ chính trị thống nhất của quốc gia. Chúng ta mất 70 năm để tiến hành việc đó, từ 939 đến 1009. Suốt giai đoạn chật vật này, không thiếu gì lãnh tụ nước Nam sẵn sàng mượn tay phương Bắc để tranh đoạt quyền bính. Con trai Ngô Vương Quyền là một thí dụ. Nhiều lãnh chúa trong thời gọi là “Thập nhị Sứ quân” cũng vậy.
Như vậy, khi lên làm Hoàng đế vào năm 1009, Lý Thái tổ phải cùng lúc giải quyết ba bài toán. Thứ nhất là dẹp nội loạn, thứ hai là xây dựng một chế độ thống nhất cho bá tánh, và thứ ba là ngăn ngừa ngoại xâm: phương Bắc đã đổi loạn thành trị. Nhà Tống đã thống nhất đất nước năm 960 và không hụt cơ hội nào để thôn tính nước Nam. Kinh nghiệm nóng hổi là khi cho tướng Hầu Nhân Bảo tấn công năm 981 – mà bị Lê Đại Hành đẩy lui…
Kể từ năm 1009, nhà Lý dần dần kiến tạo được nền móng vững hơn cho nước Đại Việt sau này. Đấy là quốc hiệu chính thức và gần như liên tục của nước ta kể từ năm 1054 cho đến năm 1804 khi Gia Long đổi tên thành Nam Việt rồi lãnh tên iệt Nam do nhà Đại Thanh đặt cho để tránh tên Nam Việt thời Triệu Đà! Năm 1820, vua Minh Mạng sáng suốt đổi quốc hiệu là Đại Nam dù nhà Thanh không chịu, và ta vẫn giữ tên ấy từ năm 1839 cho đến 1945 mới lại đổi ra Việt Nam!
Nhớ lại thì nhà Lý tồn tại liên tục từ năm 1009 đến năm 1225 – 216 năm gồm hai giai đoạn thịnh suy. Suy là từ thời Cao Tông Lý Long Trát lên ngôi năm 1175. Rồi bại là vào thời Huệ Tông Lý Long Sảm năm 1218. Sau đó, nhà Trần lên ngôi và tồn tại từ năm 1225 đến 1407, trong đó có ba lần đánh tan quân Nguyên Mông….
Nhớ đến ngàn năm Thăng Long thì trong 216 năm của nhà Lý, nước ta phải tiễu trừ nội loạn – từ các thế lực cát cứ lẫn các thị tộc thiểu số; phải ngăn ngừa ngoại xâm từ các nước Đại Lý, Chiêm Thành và một Đế quốc Chân Lạp khi ấy rất lớn và rất mạnh ở miềm Nam và Tây Nam. Đặc biệt hơn cả, nhà Lý là triều đại duy nhất của Đại Việt đã tấn công thẳng vào lãnh thổ Trung Hoa rồi thiết lập bang giao với cả nhà Tống và nhà Kim, cường quốc đã chiếm đóng phân nửa miền Bắc nước Tống!
Bên trong, nhà Lý xây dựng điển chế, phát triển giáo dục và phát huy Phật giáo, tạo dựng nền móng văn hoá riêng cho nước Nam. Nói đến nhà Lý, ta còn nhớ tới văn học, kiến trúc và tư tưởng rất độc đáo, trong đó có sự đóng góp của Phật giáo và cả văn hoá Chàm, đượm màu Ấn Độ. Ở bên dưới, sinh hoạt kinh tế cũng đã phát đạt hơn. Đại Việt khi ấy thực sự là cường quốc Đông Nam Á. Từ những mảnh vụn của chế độ Bắc thuộc mà gom lại thành một thực thể thống nhất và vững mạnh hơn, đó là công lao của nhà Lý.
Nhớ lại ngàn năm Thăng Long mà nhìn lại, chúng ta có thể học được những gì” Vận mệnh của Đại Việt được quyết định từ những nhà Ngô, Đinh, Lê, Lý rất xa xưa mà ta đã quên rồi.
Sau khi giành lại quyền tự chủ từ hơn ngàn năm Bắc thuộc, nước ta xây dựng được nền móng vững bền hơn cho quyền độc lập là từ thời Thái tổ Lý Công Uẩn trở về sau. Đại Việt đã kịp củng cố sức mạnh sau một giai đoạn nhiễu nhương kéo dài 70 năm. Trong giai đoạn ấy, Lê Đại Hành ngăn được quân Tống năm 981 nên tạo điều kiện cho nhà Lý và danh tướng Lý Thường Kiệt có sức bật gần trăm năm sau. Cũng vậy, nước Nam dưới nhà Lý đã phát huy được cái Việt tính cần thiết cho nhà Trần để ba lần đánh bại đạo quân đã tiêu diệt cả nhà Đại Tống và nhà Cao Ly và làm chủ từ Trung Á đến phân nửa Âu Châu. Sức mạnh ấy không chỉ kết tụ trong triều đình hay tầng lớp vương công quý tộc nhà Trần. Trong khi ấy, nhà Tống lên ngôi từ năm 960 thì lại bị bại vong vì quân Mông Cổ, khi nhà Trần thay nhà Lý đã chặn đứng làn sóng Nguyên Mông.
Oán nhà Trần hoặc luyến tiếc nhà Lý là chuyện của tầng lớp ở trên. Cũng thế, chê nhà Lý tội cướp ngôi của con cháu Lê Đại Hành là chuyện vặt. Nhưng lại là chuyện lớn của những kẻ viết sử theo kiểu “ăn cây nào rào cây nấy”. Trong quãng mây mù của thời gian, trải ngàn năm cho đến nay, thì quan điểm của những kẻ viết sử kiểu đó vẫn còn ảnh hưởng cho đến đời sau.
Nếu nhìn rộng ra ngoài, từ Đông qua Tây, ta mừng là Đại Việt có nhà Lý. Ngàn năm Thăng Long đánh dấu thời điểm sinh tử ấy. Sau đó, ta mới nhìn thêm là loạn thì dễ, chứ trị mới là khó. Khó nhất là khi những kẻ có quyền lại sợ loạn mà bóp nghẹt mọi khả năng suy nghĩ hoặc hành động nằm ngoài cõi chính thống. Đại Tống bại vong vì hiện tượng tư tưởng ấy. Và nếu triều đình chỉ nghĩ đến mình thì trị vẫn đổi thành loạn. Nhà Cao Ly trong cùng thời đại là trường hợp tiêu biểu.
Sau hai đời Lý và Trần, nhà Lê bắt đầu đi vào vết xe đổ tai hại này khi dựng Thánh giáo của phương Bắc thành chính giáo. Tầng lớp ưu tú nước Nam học đúng phép ổn định của phương Bắc và tưởng là tự Vương hoá mà thật ra là bị Hán hoá, với ngần ấy hậu quả bi thảm. Trong khi đó, cõi Âu Châu man rợ đã chuyển mình và sau thời Phục Hưng đã dần dần thoát xác… Khi Âu châu trưởng thành từ cuộc cách mạng văn hoá thế kỷ 16, tôn giáo vào thế kỷ 17, rồi chính trị vào thế kỷ 18, rồi khoa học kỹ thuật vào thế kỷ 19, chúng ta vẫn bơi trong dòng tư tưởng Bắc thuộc.
Leo lên đỉnh cao mà không xuống được nữa!
Sau thời Bắc thuộc bất đắc dĩ và kéo dài quá lâu, chúng ta lại có gần trăm năm Pháp thuộc. Rồi ra sức học hết tinh túy tiêu cực của cả Tầu và Tây. Là chuyện hôm nay…. khi Thăng Long và các dấu tích Lý, Trần, Lê bị chôn vùi dưới những kiến trúc xã hội chủ nghĩa dị hợm. Và sau 80 năm hiện hữu của đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước có thể trôi vào thời kỳ Bắc thuộc mới, theo “định hướng xã hội chủ nghĩa – với màu sắc Trung Hoa”, khi cả thế giới đã tiến qua thế kỷ 21.
Bước vào một năm mới và nhớ đến chuyện ngàn năm, chúng ta biết nói sao” Ôi Thăng Long! Ôi Thăng Long!…

https://vietbao.com/a115715/ngan-truoc-toi-ngan-sau

 

27.Một chút tâm tình Người ÁO NÂU

Dalat1Một nháy mắt, 1973 nay đã qua -2016 ! Tuổi xuân xưa nay đã qua nhưng vẫn mãi đẹp tình người ươm hoa! Đẹp lắm, ngày xưa- Sư Phạm Áo Nâu!

Cuộc sống ngày xưa đã nuôi tâm hồn ta. Một chút nắng của ngàn tia nắng ban mai đã dệt nên cảnh sắc bình minh ngời lên khóe mắt, ửng tươi hồng môi, má, cóng cả tay, se lạnh cả người, ôm cặp sách đến trường buổi sớm đôi mày bạc hơi sương. Đà Lạt, mái trường xưa, bạn bè thầy cô, bao mơ ước tươi nguyên …

Các cô nàng bên các anh chàng, những đóa hoa trong thời loạn ly, cùng thổn thức, tìm vô vọng một điểm tựa để chuyển xoay cơn bão dữ của chiến tranh đang tàn phá quê hương, dày xéo tâm hồn con người. Ngồi học để làm Thầy mà tâm trí cứ xao động, tâm trạng bất lực, chiến tranh vô nghĩa, vô nhân. Nét buồn vương vào sợi tóc của em, của chị, chau mày và trầm mặc theo vào trăn trở giấc đêm thâu. Ngày đến gặp nhau tâm hồn chỉ muốn thoát ra những nỗi ám ảnh mà tâm trí bất lực. Chúng ta gặp nhau tri âm, tri trí, tri tình, thương lứa tuổi thanh xuân mờ mịt, cảm thân phận sống chết mong manh, nghiệt ngã một Việt Nam nội chiến, đồng thân phận cuộc sống tuổi trẻ thời chiến, dù nhiều ưu tư chúng ta vẫn hồn nhiên , chân thật và cởi mở hết tình. Chúng ta không muốn một chút đạo đức giả nào vấy bẩn tình cảm của chiếc Áo Nâu! Những vị thầy cô của chúng ta ngày ấy các bạn còn nhớ, luôn nghiêm trang kèm cái nhún vai quay mặt dấu môi cười, giáo sinh dù học làm Thầy vẫn trốn học đi chơi, ăn cơm chùa những ngày Lễ Phật, điểm danh dối, làm bài cho nhau, chuyển thơ trong lớp… ai chưa phạm chưa thành giáo sinh(!). Núi đồi lũng thung, ngoạn cảnh chùa, du hồ suối thác, quán cốc phố phường chân mềm không biết mõi, vì chúng mình có nhau. Hai năm ngắn ngủi đổi lốt thành Thầy Giáo Làng trong hồi cuộc vận nước bi thương!

Rời Sư Phạm Áo Nâu ta có đàn em bé bỏng, tiếng đồng thanh ấm vang mái trường theo nhịp thước thầy gõ giờ tập đọc; có cái miệng tròn theo con chữ nắn nót giờ tập viết; có dòng nước mắt lăn từ từ trên đôi má trẻ thơ, có ông thầy làm nghiêm gõ thước xuống bàn một cái “Chát”, làm “ông ngáo ộp” dọa đứa trò chết khiếp lo học bài, tiếng nức nở bật ra…Tiếng thầy vang vọng, yêu thương chấp cánh đại bàng cho đàn trẻ mai ngày tung cánh bốn phương trời quê hương, thầy ươm tâm hồn trẻ thơ mơ một Việt Nam đằm thắm tình người!.

Sau tháng tư-1975, đất nước hòa bình nhưng vẫn tiếp cuộc chiến tranh! Những Thầy, Cô giáo trẻ thành Thầy, Cô giáo “Lưu dung”, riêng mình và một vài bạn đồng nghiệp thân thiết tình nguyện vào tận Gia Bắc Sơn Điền núi rừng xứ thượng DiLinh dạy học với nỗi sầu đầy vơi. Đảo cuộc can qua, lòng người mau chớm già, thương gia đình, nghĩ về mẹ cha và các em thân yêu thời bình mà ly loạn không biết cuộc sinh nhai thế nào!. Sương lạnh lên màn nhung vầng trăng im bóng cây, se lòng người khúc nhạc chiều lưu dung!

Yêu thương là tình cảm tự nhiên của con người, lòng dịu dàng khi ta có người yêu thương cảm thông chia sẽ, bên người vợ hiền cùng là cô giáo, chọn nghề sau 1975 với mơ ước như thời xưa cắp sánh đến trường. Mơ ước vẫn luôn mơ ước, trọn cả đời! Con đầu lòng Vợ Chồng đồng cảm tình Tố Tâm: Tốmàu trong trắng, Tâm -tấm lòng vì mọi người ! Yêu thương vợ, vợ chồng cùng đưa con về quê ngoại để được gần gụi mẹ cha già. Rồi Tố Tâm được làm chị, em là Đông Quỳ -đóa Hoa Mặt trời, đóa hoa bình dị trên đường đời sống sáng! Ngày đến trường lớp một chút niềm vui cứ nhòa trong cái thấy, cái nghe, điệp khúc thi đua, chỉ tiêu phấn đấu, cũng bảng thu hoạch nghị quyết, tự kiểm điểm cá nhân…nhập nhòe cuộc sống, không gian vô tận, tự do của tâm hồn chỉ còn trong cái khuôn, ai không quen nên ngột ngạt khó thở. Mười mấy năm mắt nhắm mắt mở, về thôi, về thôi-“quy khứ lai hề”, đổi bút, phấn thay bằng cán xà bách tre, ngày ngày vác cuốc vào đời cuộc sống tự do. Bảng đen hoen lệ, luôn nhớ, chiều chiều lên đồi quê ngóng về phố chợ, dội tiếng trẻ thơ đùa bụi sân trường, giữ lòng im dõi vệt nắng chiều buông… trong thực mộng khát vọng đồng thoát khổ, cố quên trang sử Tần Thủy Hoàng đốt sách! Mỗi nhát cuốc lòng vương thương đầu ngọn cỏ, lòng bồi hồi xa vọng tiếng chuông…

Trải thân cùng cuộc sống con người, đất nước trời mây, vác cuốc lên ngàn. Hòa vào cuộc sống với cả tâm tình, đất trời, sông, suối, núi rừng cưu mang đàn con trở lại quê nhà với một tâm hồn khao khát cuộc sống tình người. Sĩ quan đề lô ư, binh đơ tiền tiêu, mũ xanh, mũ đỏ, Võ Bị hay Chiến tranh Chánh trị…tất cả cùng vì đàn con thương yêu cõng bìa, đào, đập đá, hái đót, cuốc mướn, phụ hồ… Gặp nhau giữa rừng già chia ngụm nước, đẩy cho nhau cái xe thồ chất đầy củi qua cầu dây. Mấy cái gã vào rừng dựng chòi trồng mỳ, trồng bắp, mà ba lô chất đầy sách “Tự do đầu tiên và sau cùng- Hố thẳm tư tưởng- Mỹ Linh và tôi- Tuấn chàng trai nước Việt- Suzuki Daisetz…”. Ánh trăng đêm giữa rừng lặng lẽ soi những chiếc bóng tựa vào nhau, nhắp chén rượu cay say tình người, khóc cho nhau… Dầu đời có điên đảo đổi thay thế nào, tâm hồn chúng ta vẫn thênh thang cùng gió hòa mây, hợp tan, tan hợp, yêu tự do hương ngàn…Gừi hương cho gió đi muôn phương, đến bao miền đất mới cũng với một tấm lòng quê hương thế giới tình người, ước mơ “Người biết Yêu Người!”

Nay lại thêm một mùa xuân tới, đất nước vẫn chưa có niềm vui cuộc sống bình thường, bốn phương trời, những Người Áo Nâu năm xưa đầu đã hai thứ tóc, tình yêu hẳn luôn gửi vào đàn con, đàn cháu thân yêu. Hãy Giữ gìn Ánh sáng yêu thương từ mái ấm gia đình thắp sáng tình Gia Đạo sống sáng, yêu người, yêu mình,Yêu Tự Do, Bình Đẳng, yêu làn gió Dân Chủ gieo tình cuộc sống con người thế giới. Gót chân son con có cha có mẹ, mẹ cha chân lấm tay bùn, lao tâm lao lực, thương đời thương người, mong bông lúa trĩu hạt vàng thơm.

Một đời người nhìn lại được mất còn không! Cuộc sống là duyên, gìn giữ sự sống sáng an lành yêu thương, bình an cho ta, cho người và cho tất cả. Tình Thương Yêu bao la, thương mình- thương người, thương người -thương mình! Chân Thường Đạo Pháp ta nguyện sống sáng Thường Chân!

Sư Phạm Áo Nâu ơi, đời nay dù cách xa, Ta của nhau vẫn là mảnh hình hài của Tâm Thân cuộc sống con người,thế giới. Ta nguyện sống sáng Tình Người Áo Nâu gìn giữ Đóa Hoa Tâm Chân Thường đẹp sáng cõi đời yêu thương…

       Nguyễn Kiệt

28.HÌNH ẢNH VĂN HÓA TẾT XƯA

TNT (sưu tầm và viết lời bình)
Người Việt xưa rất coi trọng các giá trị tinh thần. Tết đến, ở các phiên chợ quê hay ở những nơi đông người qua lại, xuất hiện hình ảnh những ông đồ ngồi viết chữ…

HÌNH ẢNH VĂN HÓA TẾT XƯA

TNT (sưu tầm và viết lời bình)

Người Việt xưa rất coi trọng các giá trị tinh thần. Tết đến, ở các phiên chợ quê hay ở những nơi đông người qua lại, xuất hiện hình ảnh những ông đồ ngồi viết chữ…

 01cz-ongdo-3

 Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu, giấy đỏ

Bên phố đông người qua..

(Vũ Đình Liên)

01dz-ongdo-1

Giá trị tinh thần nổi bật của Tết truyền thống Việt Nam thể hiện ở tình yêu HOA. Các làng hoa ven đô vui mừng khi thấy những cành hoa mình chăm sóc nở đúng vào dịp Tết.

08az-Chotet-banhoa-2

Ở các hè phố xuất hiện những em bé cầm cành đào đứng bán bên đường:

02z-Chotet-banhoadao

Những cô gái, chàng trai… chào bán hoa đào…

04z-Chotet-banhoadao-5

Loài hoa quý phái nhất được người Hà Nội truyền thống ưa chuộng trong dịp Tết là hoa thủy tiên 05z-Chotet-banhoathuytien-2

Trong khi người miền Bắc chơi hoa đào, Hà Nội chơi hoa thùy tiên thì người miền Nam, người Sài Gòn chơi hoa mai:TetSGxua-4

        Ngày Tết ở cả hai miền Nam Bắc đều có phong tục cúng cây mía để ông bà ông vải dùng làm gậy chống. Nhưng điều thú vị là ở Sài Gòn từng có cả những phố dài chuyên bán mía cúng Tết

TetSGxua-3

Ở Sài Gòn cũng như Hà Nội, cứ Tết đến là chợ hoa mọc lên khắp nơi. Ảnh dưới đây là cảnh bán hoa Tết bên Hồ Gươm:06z-Chotet-banhoa-Hoguom

Đường Nguyễn Huệ ở Sài Gòn thời nào cũng là nơi nhộn nhịp không khí Tết với chợ hoa, rừng người

TetSGxua-5

Thật ấm lòng khi thấy những thiếu nữ Hà Nội thướt tha trong tà áo dài bán và mua hoa Tết: 07z-Chotet-banhoa1

Khách mua hoa Tết có thể gặp từ những người thuộc tầng lớp thượng lưu lịch sự 08bz-Chotet-muahoadao

Đến giới bình dân:

03z-Chotet-banhoadao-2

Chợ Hoa Xuân đầu tiên ở Thủ Đô sau ngày giải phóng (1954) thật tưng bừng nhộn nhịp: 09z-Chotet-banhoamoigiaiphong

  Bên cạnh cái đẹp tinh thần, Tết người Việt không thể thiếu cái ngon vật chất. Trên đường phố Sài Gòn trong Tết xưa cũng như nay, bên cạnh những giò hoa, những chậu hoa, ta thường thấy hiện diện xe mực nướng với mùi thơm phức lan tỏa là minh chứng cho triết lý sống hài hòa ấy:

TetSGxua-6

Ở Hà Nội thì quầy hàng Tết ở các cửa hàng mậu dịch trong những năm tháng bao cấp chống Mỹ luôn đông người 11z-Chotet-cuahangbachhoa

Chen lấn nhiều hơn xếp hàng: 10z-choTetthoibaocap

Món không thể thiếu thời đó là những hộp mứt Tết và những chai rượu Tết (“rượu mùi”): 12z-Cuahangbachhoabantet

Ngày xưa, vào những ngày gần Tết, người đàn ông trong gia đình thường lo chuẩn bị cây nêu: 13az-cayneuchuanbi

Rồi trồng nêu để xua đuổi ma quỷ: 13bz-cayneudung

Người phụ nữ nội trợ thì lo đi chợ mua gà (trống) về cúng đêm giao thừa: 01bZ-Chotet-muaga

Và mua lá dong về gói bánh chưng:

01az-chotet-banladong

Cả nhà bắt tay vào gói và luộc bánh chưng: 14z-banhchunggoi

Rồi vớt bánh chưng ra và dùng cối đá để nén cho ráo nước:

15z-banhchungnau

Cuối cùng, mâm cỗ cúng 6 món đầy ắp trong gia đình miền Bắc đã chuẩn bị xong: 16z-cotet

Thiếu nữ miền Nam cũng đã cắm lên bình hương trên bàn thờ những nén nhang thơm

TetSGxua-1

Vào những ngày giáp Tết, phố xá hai miền dường như khoác lên mình bộ cánh mới (ảnh 3D): 18z-Photet

Tết người Việt xưa không thể thiếu những tràng pháo đỏ, phong tục cầu mưa của một xứ nông nghiệp muốn qua tiếng pháo để nghe thấy  tiếng sấm báo hiệu một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt: 19z-Phaotet1

Thú vị nhất là lúc bịt tai đứng xa xa để xem đốt pháo và nghe pháo nổ đinh tai (dù tai đã bịt!): 20z-Phaotet2

Sau lúc pháo nổ là xác pháo đỏ dầy đặc trên mặt đường (những năm sau này pháo làm dối, màu đỏ chỉ có ở lớp bọc ngoài nên nhìn trên mặt đường sẽ thấy màu đỏ ít mà màu trắng nhiều). Trẻ em tranh nhau lượm pháo xịt để đốt lại: 21Z-Phao5

Cảnh thường thấy ở Hà Nội vào sáng ngày 1 Tết là đường phố vắng người, mưa bụi giăng trắng xóa, vỉa hè đầy xác pháo đỏ (trong hình dưới đây là phố Khâm Thiên) – một không khí ấm (do Tết, do màu đỏ) trong giá rét… 17-PhoTetKhamThien

Cũng như ở miền Bắc, người phụ nữ miền Nam ngày Tết dắt con đi lễ chùa cầu mong Trời Phật phù hộ cho gia đình năm mới có cuộc sống an khang thịnh vượng (yên ổn về tinh thần trước rồi mới đến sung túc về vật chất sau)

TetSGxua-2

Mồng 4, mồng 5 Tết là bắt đầu tưng bừng Hội Xuân: 23z-Hoixuan

Mà trong đó đu xuân là trò chơi không thể nào thiếu được: 24z-Hoixuan2

Các trò chơi Tết được khắc họa lại dày đặc dưới con mắt tò mò của người phương Tây trong sách của Samuel Baron: 22z-HoixuancuaSamuelBaron

Còn đây là bộ ảnh “Tết xưa” do nhà thiết kế Võ Việt Chung “phục chế”, thực hiện vào dịp Xuân Kỷ Sửu 2009 (Netlife.com.vn) với sự tham gia của Kim Khánh, Kim Cương, Tạo Đỗ, Quang Vinh, Phương Linh, bé Bin, bé Tường và thân mẫu Võ Việt Chung – bà Ngô Thị Bê tại Củ Chi. Một quang cảnh Tết xưa luôn đầy ắp tiếng cười và niềm vui sum họp…

Đi chợ về…

Anhtet-thietkeNgVietChung-01

Vào bếp… Anhtet-thietkeNgVietChung-02

Dọn dẹp nhà cửa, đánh bóng đồ thờ… Anhtet-thietkeNgVietChung-03

Cả nhà cùng gói, nấu bánh chưng…

Anhtet-thietkeNgVietChung-04

Các thiếu nữ thêu thùa, chuẩn bị những tà áo dài, đồ trang sức…

Anhtet-thietkeNgVietChung-05

Ướm thử… /Anhtet-thietkeNgVietChung-06

Giúp nhau mặc và trang điểm… Anhtet-thietkeNgVietChung-07

Rồi chị em từ trong buồng thập thò ngó ra, ngóng khách…

Anhtet-thietkeNgVietChung-08

Chúc tết và lì xì… Anhtet-thietkeNgVietChung-09

Không gì vui bằng gia đình sum họp… Anhtet-thietkeNgVietChung-10

Rồi cùng vui chơi, hội hè…

Anhtet-thietkeNgVietChung-11

Nguồn: sưu tập từ nhiều nguồn trên internet

 http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/thu-vien-so-sach-anh-video/thu-vien-anh/2147-hinh-anh-van-hoa-tet-xua-suu-tam.html
Advertisements